91. Trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Mỹ

corporate criminal responsibilityBài dưới đây là Chuyên đề 4 trong Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức ủa Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ tư pháp do TS Cao Thị Oanh làm chủ nhiệm đề tài, xuất bản năm 2011.

Vì lý do kỹ thuật, tất cả các trích dẫn cuối trang (footnotes) trong tài liệu gốc được chuyển thành trích dẫn cuối tài liệu (endnotes) và số trong [ngoặc vuông] thứ hai trong endnotes chính là footnotes trong tài liệu gốc.

Chuyên đề 4: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN TẠI MỸ

Nguyễn Khắc Hải, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội

TNHS của pháp nhân là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất của luật hình sự hiện đại. Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Âu đã cùng đề xuất với các nước thành viên để đưa trách TNHS vào pháp luật hình sự của quốc gia mình. Nhiều nước châu Âu đã theo khuyến cáo, nhưng một số nước lại không hỗ trợ sáng kiến này[1]. Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân ngay lập tức làm phát sinh một loạt các vấn đề pháp lý như làm thế nào để xác định trạng thái tinh thần và xác định sự tồn tại của ý định trong hành động của một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, phạm vi mà pháp nhân chịu trách nhiệm về các hành động của nhân viên của họ, những tiêu chuẩn cần hướng dẫn các quyết định đưa đơn kiện đối với pháp nhân, các hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân. Ở Mỹ, chế định TNHS pháp nhân đã tồn tại hơn 100 năm nên các kinh nghiệm thực tế của Mỹ trong lĩnh vực này có thể là một công cụ hữu ích cho các nước đã áp dụng hoặc đang nghiên cứu khả năng đưa TNHS đối với pháp nhân vào pháp luật hình sự quốc gia. Nghiên cứu này bàn về các giai đoạn phát triển trong hệ thống pháp lý của các học thuyết của Mỹ về TNHS pháp nhân và ứng dụng thực tế của mình để làm sáng tỏ cách tiếp cận của Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề trên và có liên quan.

1. Lịch sử vấn đề trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Mỹ

Ý tưởng của việc buộc các pháp nhân phải chịu TNHS đối với các hoạt động của các chi nhánh của chúng còn tương đối mới mẻ, bởi vì “vào đầu thế kỷ XVI và XVII thì quan điểm chung là pháp nhân không buộc phải chịu TNHS”. V.S. Khanna lập luận rằng quan điểm này có thể xuất phát từ ít nhất bốn trở ngại: đầu tiên, vấn đề của “quy kết hoạt động của pháp nhân chỉ là viễn tưởng pháp lý”; thứ hai, cho rằng các pháp nhân không thể “có trạng thái tâm lý đáng bị khiển trách cần thiết để thực hiện tội phạm có chủ định; thứ ba là học thuyết quyền lực cực đoan, theo đó tòa án sẽ không buộc các pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi, chẳng hạn như tội phạm, mà không được quy định trong điều lệ của mình; và trở ngại thứ tư là “sự nhận thức theo nghĩa thông thường của các tòa án trong tố tụng hình sự”, dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng những quy tắc đối với chủ thể đặc biệt là pháp nhân.

Lúc đầu các tòa án ở Mỹ bắt đầu truy cứu TNHS pháp nhân “trong những trường hợp liên quan đến việc không thực hiện những điều luật buộc phải làm của các công ty tư nhân được ủy quyền của chính phủ, chẳng hạn như chính quyền của thành phố tự trị, dẫn đến thiệt hại cho cộng đồng”, và sau đó, các quy tắc về thiệt hại cho cộng đồng và tính chịu trách nhiệm được mở rộng áp dụng đối với cả các pháp nhân hoạt động thương mại. Mặc dù “thời gian giữa năm 1800 trở về trước đã có nhiều nghi vấn là liệu pháp nhân có thể phải chịu TNHS đối với sự lạm quyền (hành vi chủ động), cũng như không làm những điều pháp luật buộc phải làm (chểnh mảng, vô trách nhiệm)”. Vào năm 1852 tòa án tối cao New Jersey cho rằng”một pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra bởi những nhân viên hoặc các đại lý của nó như một con người tự nhiên; và nó chịu trách nhiệm như một người tự nhiên đối với các hành vi của các đại lý thực hiện theo thẩm quyền, thể hiện hay ngụ ý… và áp dụng… cả TNHS cũng như trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân”. Vì vậy, như Khanna bàn luận, “sự phát triển này (buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm cho cả hai loại hành vi phạm tội có chủ định và chểnh mảng, vô trách nhiệm đối với trách nhiệm được giao) cuối cùng khuyến khích các tòa án mở rộng TNHS pháp nhân đối với tất cả các tội phạm mà không yêu cầu xác định chủ định”.

Tuy nhiên, “các tòa án đã chậm chạp trong việc mở rộng TNHS pháp nhân đối với các tội phạm có chủ định. Không mở rộng cho đến khi một pháp nhân – tập đoàn “New York Central & Hudson River Railroad” tại Mỹ vào năm 1909 bị Tòa án tối cao buộc phải chịu trách nhiệm về những tội phạm có chủ định”. Trong vụ án này, tập đoàn bị đơn cho rằng các quy định của pháp luật về vấn đề này, cho phép cho buộc các tập đoàn chịu trách nhiệm về những tội phạm thực hiện bởi các đại lý của họ, là vi hiến vì “Quốc hội không có thẩm quyền để quy tội cho một pháp nhân, hoặc truy tố pháp nhân bởi lý do những nhiệm vụ mà pháp nhân phải đảm nhiệm… [và] rằng trừng phạt pháp nhân như vậy thì thực tế để trừng phạt các cổ đông vô tội, và để tước đoạt tài sản của họ mà họ không có cơ hội được xét xử, do đó không theo đúng thủ tục của pháp luật”. Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ lập luận này và cho rằng:

Đúng là có một số tội phạm, theo bản chất tự nhiên của chúng, không thể được thực hiện bởi pháp nhân, có nhiều loại tội phạm chứa đựng mục đích thực hiện những điều trái với quy chế của pháp nhân. Đối với những loại tội phạm đó chúng ta không thấy những lý do hợp lý để giải thích vì sao các pháp nhân lại không phải chịu trách nhiệm về sự nhận biết và những mục đích của các chi nhánh của họ, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền được trao.

Sau đó với lý do trên các tòa án đã mở rộng tới cả các vụ án làm rõ ý định phạm tội, và “trong suốt đầu thế kỷ XX các tòa án đã bắt đầu buộc các pháp nhân phải chịu TNHS… cho hầu hết những thiệt hại trừ những tội phạm hiếp dâm, giết người, vi phạm chế độ một vợ một chồng, và các tội phạm với mục đích hiểm độc”.

Theo pháp luật chung của Anh vào thế kỷ XVI-XVII, pháp nhân – doanh nghiệp – không bị truy cứu về hình sự. Các luật sư vào thời điểm đó tin rằng các công ty, không phải là con người để có khả năng đưa ra sự lựa chọn thể hiện đạo đức, nên không thể phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức hoặc hình sự đối với các hành động của họ[2]. Một quan tòa nổi tiếng của Anh – Lord Holt – năm 1701 tuyên bố: “Doanh nghiệp không bị truy tố hình sự”[3], và trong hơn một thế kỷ, nguyên tắc pháp lý này đã hướng dẫn các thẩm phán Anh và Mỹ, ngăn chặn nỗ lực để áp đặt TNHS đối với pháp nhân. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XIX, tình hình bắt đầu thay đổi bởi vì các tòa án đã bắt đầu quan tâm đến TNHS đối với doanh nghiệp cho cái gọi là “vi phạm trật tự công cộng”. Luật pháp Hoa Kỳ định nghĩa “vi phạm trật tự công cộng” là “sự vi phạm công cộng vô lý đối với các lĩnh vực rộng lớn của pháp luật về công cộng. Danh sách các hành vi “vi phạm trật tự công cộng” bao gồm một số hành động có hại và có khả năng gây nguy hiểm, chẳng hạn như thải các khí độc hại, gây cản trở trên đường công cộng, lưu giữ các động vật bị bệnh ở nơi công cộng và sở hữu chất nổ ở những vị trí nguy hiểm. Trong thế kỷ XIX, do tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong số các tập đoàn ở Mỹ cũng như số lượng các “vi phạm trật tự công cộng” đã tăng lên đáng kể, pháp luật đã được dự tính để đáp ứng những thay đổi này và việc cho phép truy cứu TNHS pháp nhân đã phần nào thể hiện điều này.

Ví dụ, năm 1852 Tòa án tối cao bang New Jersey đã đưa ra phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với các công ty đường sắt đã xây một tòa nhà ở giữa đường của công chúng, làm cản trở giao thông[4]. Năm 1854, Tòa án tối cao thượng thẩm ở bang Massachusetts đã phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với một tập đoàn, xây dựng một cây cầu qua sông mà tàu bè hay đi lại, tạo ra những trở ngại cho vận tải đường sông[5]. Quyết định của Toà án Massachusetts đã thúc đẩy bởi một thực tế là học thuyết pháp lý về nghiêm cấm việc truy cứu TNHS pháp nhân đối với việc thực hiện những hành vi tương tự “xảy ra vào thời điểm, khi mà số lượng các doanh nghiệp chưa nhiều, nhưng cơ hội của họ bị hạn chế, cũng như mục đích mà họ đã tạo ra. Kinh nghiệm cho thấy sự cần thiết phải sửa đổi của nó[6]. Hơn nữa, tòa án ghi nhận là “không có lý do chính đáng” để tha cho các pháp nhân “bởi các hậu quả của hành động bất hợp pháp của các đại diện của họ …”[7]. Tòa án đã đưa ra sự tương tự với thực tiễn xét xử án dân sự từ lâu đã thừa nhận trách nhiệm của pháp nhân cho các hành động của người đại diện của họ vì rằng bất kỳ lệnh cấm truy tố pháp nhân “trong nhiều trường hợp, sẽ loại trừ tất cả các biện pháp pháp lý bảo vệ cần thiết, và làm cho không thể bồi thường thiệt hại gây ra bởi các doanh nghiệp, bởi vì sẽ để lại một phương pháp bảo vệ duy nhất là từ nhân viên vô trách nhiệm”[8]. Trong kết luận, tòa án phán quyết: “Không có nguyên tắc pháp lý nào mà có thể bảo đảm cho các tổ chức được quyền miễn trừ. Nếu họ xâm phạm vào quyền sở hữu tư nhân hoặc tạo ra chướng ngại vật mà vi phạm các quyền của người khác hoặc gây hại cho anh ta, thì không ai có thể nghi ngờ gì về trách nhiệm của họ. Trong cùng một cách thức và lý do tương tự, đối với việc thực hiện những hành vi tương tự, gây ra sự bất tiện cho xung quanh và gây bất bình trong cộng đồng, họ phải chịu trách nhiệm đối với điều này và theo cách đó là có thể chấp nhận để điều tra các vi phạm pháp luật tương tự”[9].

Năm 1909 trong quyết định về vụ án Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hudson River của Mỹ, Tòa án tối cao của Mỹ đã chấp nhận luận cứ của tòa án xét xử vụ này về việc áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân. Vụ án này nhắc đến Đạo luật Elkins, quy định mức cước phí của các công ty vận tải, bao gồm cả các công ty vận tải đường sắt, cấm các công ty vận tải đường sắt giảm giá cho các khách hàng ưu tiên của mình. Theo sự buộc tội của nhà nước thì các nhân viên của công ty đường sắt trong vụ Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hudson River của Mỹ đã vi phạm quy định của Đạo luật, và các tòa án buộc phải quyết định về khả năng truy cứu TNHS đối với công ty này. Vì lý do trật tự công cộng và công lý, tòa án phán quyết truy cứu hình sự đối với công ty này. Trước tiên, tòa án chỉ ra vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong thế giới hiện đại và sự cần thiết của việc điều tiết các hoạt động của các doanh nghiệp thông qua pháp luật một cách thích hợp. Toà án tiếp tục lưu ý rằng sự thiếu vắng TNHS đối với pháp nhân thì những đạo luật, như Elkins luật, sẽ không bao giờ hoạt động, và công chúng sẽ không bao giờ có thể tận hưởng được những lợi ích được cung cấp. Quyết định của tòa được lý giải như sau:

“Thực tế của lịch sử xã hội hiện đại là luật cấm cắt giảm thuế quan đã định, chưa được áp dụng một cách có hiệu quả cho đến tận hiện tại, hiện nay hình phạt cho những vi phạm pháp luật chỉ mới áp dụng cho cá nhân… Và mặc dù pháp luật phải bảo vệ các quyền của mọi cá nhân, và các quyền của pháp nhân cũng không kém phần quan trọng so với các quyền của công dân, pháp luật không thể nhắm mắt trước thực tế là hiện nay phần lớn các giao dịch kinh doanh được thực hiện bởi tổ chức, và các hoạt động thương mại quốc tế trên thực tế gần như hoàn toàn nằm trong tay các doanh nghiệp, và giải thoát họ khỏi mọi hình thức trừng phạt trên cơ sở học thuyết cũ và hoàn toàn lỗi thời là một pháp nhân không thể phạm tội, sẽ làm mất đi phương tiện kiểm soát hiệu quả và thống nhất đối với đối tượng xét xử và lạm dụng sự cải tạo trong lĩnh vực này”[10].

Hơn nữa, tòa án đã phán quyết rằng do chính các tổ chức nhận được lợi ích kinh tế, thì rõ ràng các tổ chức phải chịu TNHS:

“Từ góc độ của luật pháp, tòa không thấy bất kỳ sự phản đối đáng kể, nhưng từ góc nhìn về trật tự công cộng, có những lý do rất xác đáng rằng một tổ chức nào đó mà được hưởng lợi từ một giao dịch cụ thể và hoạt động chỉ thông qua đại diện và nhân viên của họ, sẽ bị phạt tiền vì sự cố tình và cố ý của các đại diện được trao thẩm quyền của họ…, và những hoạt động có phương hướng và nhận thức của họ cũng có thể được quy cho tổ chức, thông qua đại diện của mình “[11]. Trong kết luận, tòa án phán quyết: “không có lý do chính đáng nào để thuyết phục rằng các tổ chức không phải chịu trách nhiệm về các cáo buộc đối với những hoạt động cố tình và cố ý của các đại diện của họ, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền được tổ chức trao”[12].

Là kết quả của một quyết định của tòa án trong vụ án của công ty đường sắt “Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hudson River của Mỹ”, chế định TNHS pháp nhân đã được thiết lập vững chắc trong luật pháp Mỹ, và các doanh nghiệp phải chịu TNHS đối với các trường hợp sau:

  • Tội phạm môi trường;
  • Cung cấp bất hợp pháp các dịch vụ y tế;
  • Vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;
  • Vi phạm pháp luật chống độc quyền;
  • Tham ô và lừa đảo;
  • Phổ biến hoặc trưng bày các nội dung khiêu dâm;
  • Vi phạm pháp luật về an toàn tại nơi làm việc[13].

Ngoài những hành vi phạm tội này, căn cứ vào tính chất kinh tế, các doanh nghiệp thậm chí còn bị truy tố về những tội xâm phạm nhân thân, kể cả giết người. Ví dụ, vụ án của các công ty xây dựng “Granit”, trong đó có bảy công nhân xây dựng đã thiệt mạng trên công trường thi công do tai nạn. Công ty đang tiến hành công việc xây dựng bị buộc tội giết người vì đã không tuân thủ các quy tắc an toàn kỹ thuật trên công trường xây dựng. Công ty xây dựng đã phản đối với lý do là pháp nhân chỉ có thể bị truy tố đối với các tội phạm liên quan đến tài sản, chứ không phải với các tội liên quan đến con người. Tòa phúc thẩm bác bỏ lập luận này và giải thích quyết định của mình như sau:

“Nỗ lực để phân biệt giữa các tội phạm xâm phạm tài sản và tội phạm xâm phạm con người quy định bởi bản chất của pháp nhân như là những chủ thể của động cơ kinh tế. Phạm tội xâm phạm tài sản, các tổ chức có thể thu nhận lợi nhuận trực tiếp cho mình, còn các tội xâm phạm đến con người không phải luôn luôn trực tiếp liên quan đến động lực của lợi nhuận. Đây là sự lập luận không xác đáng. Các doanh nghiệp đã không quan tâm đến thực tế là mình có thể gián tiếp nhận được lợi ích về kinh tế bằng cách phạm tội xâm phạm đến con người. Để nhận được loại lợi nhuận kinh tế này thì doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí áp dụng các phương tiện, biện pháp an toàn, sử dụng vũ lực đối với các công nhân đình công hoặc sử dụng phương pháp phạm tội để chống lại đối thủ. Nếu pháp nhân đã chấp nhận những mạo hiểm trên và thực hiện những hành vi tương ứng thì pháp nhân đó cũng phải chịu TNHS tương tự như các bị cáo khác[14].

Roland Hefendehl nói rằng có “chỉ có hai tình huống mà TNHS của pháp nhân không thể được áp dụng: khi tội phạm không thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền – mà phạt tiền là những phương tiện mang tính nguyên tắc để trừng phạt một công ty – và khi tội phạm, do bản chất của nó không thể phạm phải bởi một pháp nhân (ví dụ như hiếp dâm). Như vậy, đối với rất nhiều sự cân nhắc chính sách mà Tòa án đề cập trong các trường hợp trên, trong phần lớn các phán quyết của Mỹ, TNHS đối với pháp nhân được xác định trên học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên. Theo học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, “ba yêu cầu phải được đáp ứng để áp đặt trách nhiệm đối với một doanh nghiệp:

Thứ nhất, một đại lý của doanh nghiệp phải có hoạt động bất hợp pháp (có hành vi khách quan) với trạng thái tâm lý (thể hiện ý định phạm tội). Thứ hai, đại lý thực hiện những hoạt động đó trong phạm vi thẩm quyền của mình. Cuối cùng, đại lý phải có dự định thu lợi cho tập đoàn.

Các tòa án liên bang cấp thấp hơn đã theo nguyên tắc chung này, ví dụ vào năm 1943, một công ty vi phạm một quy định về cấm đóng góp chính trị của các thực thể công cộng, vòng kiểm tra thứ tám phục vụ cho xét xử của tòa phúc thẩm cho rằng “không còn bất kỳ sự phân biệt cơ bản nào giữa trách nhiệm dân sự và TNHS của các doanh nghiệp, dựa trên những yếu tố của ý định hoặc sai mục đích”.

Năm 1972, tại Mỹ, Tòa thượng thẩm liên bang quận chín đã tổ chức “với tư cách một quy tắc chung một công ty phải chịu trách nhiệm … cho các hành vi của các đại lý của mình trong phạm vi của việc làm thuộc quyền hạn của họ, mặc dù trái với chính sách chung của doanh nghiệp nói chung và trái với hướng dẫn đối với các đại lý “. Mặc dù trường hợp này liên quan đến những vi phạm của luật chống độc quyền, Đạo luật Sherman, điều này mở rộng cơ chế chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên rất đáng kể ở chỗ nó hạn chế sự bao biện của các doanh nghiệp.

Năm 1989, Tòa thượng thẩm của Mỹ trong vòng điều tra thứ hai đã ủng hộ sự tìm kiếm của một tòa cấp dưới về lỗi của tội không chấp hành quyết định của tòa án của công ty phim đang kháng cáo dựa trên những hành động có chủ ý của những nhân viên của công ty, những người được chứng minh là hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình trong việc cố tình phủ nhận những những lệnh của tòa án[15]. Tòa án đã cho rằng “một khi đã xác định được là đại lý của doanh nghiệp rõ ràng cố ý phạm tội không chấp hành quyết định của tòa án, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Đó là quy tắc của trách nhiệm thay thế, nó khuyến khích các công ty để thiết lập những nguyên tắc tuân thủ”. Điều thú vị là Tòa án cũng khẳng định việc duy trì của các tòa án khác, ghi nhận rằng trong sự sửa đổi lần thứ sáu đảm bảo cho những người của doanh nghiệp phạm tội không chấp hành quyết định của tòa án được xét xử bởi phiên tòa bồi thẩm.

Theo một hướng khác, Tòa án tối cao cũng đã áp đặt trách nhiệm đối với các doanh nghiệp đối với những tội phạm về “phúc lợi công cộng”. Ví dụ, tại Mỹ vào năm 1971 đối với vụ án về Tập đoàn Khoáng sản và Hóa chất quốc tế, Tòa án Tối cao áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc tiêu chuẩn đối với tập đoàn bị đơn về việc đã vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm[16]. Theo đó, Tòa án lý giải rằng nơi “nguy hiểm hoặc các thiết bị có hại hoặc các sản phẩm hoặc các vật liệu thải độc hại có liên quan, xác suất quy định như vậy tuyệt vời đến mức mà bất cứ ai nhận thức được rằng anh ta đang sở hữu chúng hoặc buôn bán chúng phải được cho rằng nhận thức được quy định này.

2. Luật pháp Mỹ hiện hành

2.1. Bộ luật hình sự mẫu và vấn đề doanh nghiệp phạm tội

Mặc dù dưới “Hiến pháp Mỹ, quyền lực để áp đặt TNHS nhìn chung là dành chủ yếu cho các tiểu bang,” và do đó “luật hình sự của Mỹ được pháp điển hóa trong năm mươi hai bộ luật hình sự khác nhau,” vẫn còn có những tương đồng giữa các bộ luật, “trong phần lớn do ảnh hưởng từ Bộ luật hình sự mẫu của Viện nghiên cứu Luật Mỹ. Ban hành năm 1962, Bộ luật đã thúc đẩy một làn sóng cải cách Bộ luật tiểu bang… và do đó, nhiều học giả tranh luận rằng các Bộ luật hình sự mẫu, nhiều hơn bất cứ Bộ luật nào, là luật gần nhất để trở thành một Bộ luật hình sự Mỹ”. Đối với TNHS của doanh nghiệp, cách tiếp cận của Bộ luật là “hạn chế hơn so với đa số các thẩm quyền phán quyết được sử dụng tại Mỹ. Xử phạt doanh nghiệp trong các trường hợp vi phạm đáng bị phạt chỉ áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm một nghĩa vụ nào đó do luật định hoặc nếu việc phạm tội là do bất cẩn của ít nhất một lãnh đạo cấp cao”.

Bộ luật hình sự mẫu phân chia doanh nghiệp phạm tội thành ba nhóm khác biệt với các hệ thống trách nhiệm khác nhau: nhóm đầu tiên bao gồm các hành vi phạm tội phổ biến đòi hỏi phải có ý định phạm tội, và những hành vi phạm tội này được mô tả là các tội phạm mà thiếu một mục đích lập pháp rõ ràng nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp, thông thường là do cá nhân vi phạm như gian lận hoặc giết người ở cấp độ hai[17]. Đối với các hành vi phạm tội này, Bộ luật “cung cấp các hình phạt đối với các doanh nghiệp chỉ khi tội phạm đã được thực hiện, hoặc ít nhất cũng đã được cho phép, ra lệnh hoặc do sơ xuất bởi ban giám đốc hoặc bởi lãnh đạo chi nhánh hành động thay mặt cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của mình”[18].

Nhóm thứ hai bao gồm các tội phạm chứa đựng yêu cầu về ý định phạm tội mà theo ý định có thể nhận biết được của cơ quan lập pháp, có thể phạm phải bởi doanh nghiệp (ví dụ như sự đồng mưu kinh doanh)”. Ở đây, Bộ luật hình sự mẫu theo thuyết trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, quy định rằng:

Doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt đối với những tội phạm mà không cần quan tâm tới vị trí của người phạm tội trong hệ thống của doanh nghiệp nếu người phạm tội đã hành động trong phạm vi của công việc của mình và với mục đích có lợi cho tập đoàn. Ngoài ra, ngược lại với tư pháp, Bộ luật hình sự mẫu tạo ra cơ chế biện hộ có lợi cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có thể chứng minh bằng sự ưu thế của bằng chứng rằng một người giám sát có trách nhiệm cao hơn chủ thể của hành vi phạm tội đã làm việc rất tận tâm để ngăn sự việc phạm tội, thì doanh nghiệp có thể không bị trừng phạt.

Cuối cùng, nhóm thứ ba được dựa trên các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối, và đối với những tội phạm này thì Bộ luật hình sự mẫu “coi rằng các cơ quan lập pháp dự kiến quy trách nhiệm đối với các doanh nghiệp về các loại công việc sai lầm nhất định. Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, các doanh nghiệp có thể phải chịu TNHS mà không có bằng chứng về ý định hoặc yếu tố vật chất khác của hành vi phạm tội … cũng không cần thiết để chứng minh là có dự định có lợi cho doanh nghiệp”.

2.2. Các quy định khác

“Tại Mỹ, pháp nhân được coi là chủ thể có thể bị đưa ra xét xử và bị kết án đối với những tội phạm do cá nhân giám đốc, người quản lý và thậm chí cả nhân viên ở cấp thấp thực hiện”[19]. Mỹ là quốc gia áp dụng “TNHS đặc trưng để bổ sung cho những quy định dân sự và hành chính”, điều mà những quốc gia khác sử dụng với tư cách là công cụ để điều chỉnh những hoạt động của các pháp nhân[20].

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và học giả không đồng ý vì cho rằng liệu cách thức mà người Mỹ tiến hành hiện nay có giúp ích hay gây hại nhiều hơn. Edward Diskant chỉ ra rằng chỉ riêng quá trình đưa ra bản cáo trạng thôi cũng có thể có “tác động hủy hoại về tài chính và uy tín, và điều này có thể làm hỏng công việc kinh doanh của các công ty. Và hệ quả là, nhận thức chung trong cộng đồng kinh doanh đối với việc kết tội pháp nhân chính là cú đánh có khả năng khai tử đối với một công ty, và như vậy công ty khó có thể phục hồi ngay cả khi nó thực sự là vô tội”.

Theo quy định của pháp luật hình sự một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thực hiện hành vi rõ ràng là cố ý. Đối với pháp nhân, khác với con người, không có khả năng nhận thức những lựa chọn đạo đức, hiển nhiên là phát sinh câu hỏi: làm sao có thể truy cứu TNHS pháp nhân? Theo luật Mỹ, câu trả lời cho câu hỏi này nằm trong hành động và quyết định của các nhân viên của tổ chức. Tòa án thượng thẩm liên bang của Mỹ đã đưa ra phán quyết “hoạt động của pháp nhân, cuối cùng, là những hành động của các nhân viên của mình trong phạm vi thẩm quyền được trao”[21]. Vì vậy, bất kỳ thông tin nào thu được từ nhân viên của tổ chức, hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được trao được tổng hợp và được quy gán cho tổ chức đó[22]. Nếu có từ ba thành viên riêng biệt của tổ chức có thông tin về một hiện trạng của tình hình nào đó, thì được coi là tổ chức đó đưa ra thông tin về ba hiện trạng[23]. Quy luật về những thông tin chung là kết quả quan trọng của cơ cấu của tổ chức của doanh nghiệp hiện đại. Quyết định của một tòa án ở Mỹ đã chỉ ra:

“Các doanh nghiệp phân tách thông tin, tạo ra từ những yếu tố nghĩa vụ và hoạt động cụ thể của hợp phần nhỏ hơn. Khái quát của các hợp phần như vậy của doanh nghiệp phát sinh sự nhận thức về các hoạt động cụ thể. Không quan trọng là các nhân viên, chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện một hợp phần của hoạt động, có biết các nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện những hợp phần khác của hoạt động. . . Doanh nghiệp được cho rằng sắp đặt sự nhận thức tập thể đối với tất cả các nhân viên và chịu trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ theo đúng cách đề ra”[24].

TNHS, tất nhiên, không thể xảy ra trong sự hiện diện của chỉ một trong những nhận thức. Điều cần thiết là hành động đã được thực hiện cố ý. Để thiết lập sự hiện diện của ý định trong các hoạt động của tổ chức, luật hình sự Mỹ yêu cầu xem xét các hành động của nhân viên và truy cứu TNHS tổ chức, nếu nhân viên đã hành động, trước hết, thuộc thẩm quyền của mình và, thứ hai, với mục đích mang lại lợi ích cho tổ chức[25]. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về hai điều kiện này. Thứ nhất, nhân viên được cho rằng hoạt động trong thẩm quyền được trao của mình nếu anh ta có quyền “thực tế” hay “dự đoán hợp lý” để có một số hành động. “thẩm quyền thực tế” được hiểu là thẩm quyền do tổ chức đặc biệt và cố tình trao cho nhân viên này[26]. “Thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý” được định nghĩa là “thẩm quyền, trong đó, theo các bên thứ ba, theo sắp đặt đại diện của tổ chức, xuất phát từ trách nhiệm và nghĩa vụ phải thực hiện của họ trong tổ chức, có liên quan đến các hành động trước đây của mình”[27].

Và trong khi có thể lý giải tại sao các pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm về các tội phạm do nhân viên có thẩm quyền thực tế của họ, thì quyết định truy tố một tổ chức đối các tội phạm thực hiện bởi người chỉ có một “thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý” lại có vẻ không công bằng. Các tòa án Mỹ giải quyết các vấn đề này theo nguyên lý sau: Nguyên tắc pháp lý này hoàn toàn chấp nhận được vì phạm vi lớn và cơ cấu phân quyền của các tổ chức hiện đại, cũng như bởi thực tế là các tổ chức thường làm khó công tác chứng minh sự tồn tại của thẩm quyền của nhân viên trong việc thực hiện hành động cụ thể[28]. Do đó, nếu một đại diện của tổ chức bất kỳ hoạt động trong một cách mà bên thứ ba cho rằng, một cách hợp lý, được trao thẩm quyền thực tế, các tòa án Mỹ cho rằng hoàn toàn hợp lý để kết luận rằng đại diện này của tổ chức này thực sự có thẩm quyền thực tế và rằng tổ chức này phải chịu trách nhiệm cho hành động của đại diện này với điều kiện những hoạt động đó vì lợi ích của tổ chức.

Trên cơ sở điều kiện bắt buộc về “lợi nhuận doanh nghiệp”” thể hiện sự nhận thức rằng để truy tố các tổ chức về hành động của các nhân viên, thực hiện không vì lợi ích của tổ chức, sẽ là không công bằng và sẽ không phục vụ mục đích của trật tự công cộng. Quyết định của tòa án phúc thẩm liên bang Mỹ trong vụ án của Công ty Standard Oil của Texas Mỹ, cho biết: “Việc nhận hoặc trả tiền mặt của ngân hàng, rõ ràng là một trong những chức năng thông thường của nó, chưa hẳn có thể coi như là cơ sở TNHS đối với ngân hàng, nếu trong thời gian “làm việc” này, nhân viên đáng nghi ngờ đã chiếm dụng vốn, biển thủ, hoặc gian lận bằng cách chuyển cho người đồng phạm của họ”[29]. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu rằng các điều kiện về “lợi nhuận doanh nghiệp” được cho là thực hiện nếu nhân viên của tổ chức hành động vì lợi ích của tổ chức không phân biệt tổ chức đã nhận được lợi ích hay chưa[30]. Điều này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung, theo đó người phạm tội phải bị trừng phạt, ngay cả khi tội phạm chưa hoàn thành, giống như kẻ móc túi sẽ không tránh TNHS nếu chiếc ví bị đánh cắp chẳng có đồng nào. Hơn nữa, không có cần phải chứng minh rằng lợi nhuận doanh nghiệp là mục đích duy nhất mà doanh nghiệp hướng tới. Chỉ cần để chứng minh rằng các nhân viên có thể theo đuổi một vài mục tiêu, nhưng một trong số đó là lợi nhuận doanh nghiệp[31]. Nếu không có quy tắc như vậy, các tổ chức luôn luôn có thể thoát khỏi TNHS nếu nhân viên của mình thông qua hành động của họ và loại bỏ các lợi ích cá nhân. Như vậy, nếu một quan chức của doanh nghiệp, hoạt động trong quyền hạn của mình, đưa một khoản tiền hối lộ cho một quan chức nhà nước nào để đảm bảo rằng doanh nghiệp giành chiến thắng trong cuộc thi và nhận được hợp đồng, thì chính doanh nghiệp có thể có thể phải chịu TNHS.

2.3. Hình phạt

Không giống như cá nhân, tổ chức không thể bị phạt tù, do đó tại Mỹ phạt tiền được là hình phạt chủ cơ bản áp dụng với pháp nhân. Liên quan đến vấn đề này phát sinh vấn đề là cách tính số tiền phạt trong từng trường hợp cụ thể. Theo Luật về cải cách áp dụng hình phạt vào năm 1984, loại hình phạt áp dụng bởi tòa án liên bang của Mỹ, được dựa trên những khuyến nghị, chứa đựng cái gọi là “Hướng dẫn áp dụng hình phạt”, soạn thảo bởi Ủy ban áp dụng hình phạt của Mỹ. Ủy ban này là một cơ quan độc lập trong ngành tư pháp của các cơ quan chính phủ ở Mỹ. Đối với hình phạt cho các doanh nghiệp, Ủy ban quyết định như sau:

“Hướng dẫn về áp dụng hình phạt đối với các tổ chức được thiết lập để tất cả các biện pháp trừng phạt đối với các tổ chức và đại diện của họ, bảo đảm hình phạt công bằng và các biện pháp thích hợp ngăn chặn và sẽ khuyến khích các tổ chức sử dụng cơ chế nội bộ để ngăn chặn, phát hiện và ghi lại các hoạt động bất hợp pháp”[32].

Theo khuyến nghị của Ủy ban áp dụng hình phạt đối với việc thi hành bản án của các tổ chức, tòa án trước tiên phải “buộc các tổ chức bồi thường mọi thiệt hại gây ra bởi hành động phạm pháp của mình” nhằm khôi phục toàn vẹn cho những người bị hại[33]. Nói cách khác, trước khi tòa án áp dụng phạt tiền đối với tổ chức thì cần phải bồi thường cho các nạn nhân. Sau đó, tòa án phải xác định thực hiện hay không “hoạt động của tổ chức chủ yếu cho mục đích tội phạm hay chủ yếu bằng các phương thức phạm tội”. Trong trường hợp này, tòa án buộc phải áp dụng chế tài tiền trong phạm vi “đủ để loại bỏ tổ chức này và tất cả tài sản của nó”. Như vậy, trong ví dụ giả định trên, việc hối lộ quan chức chính phủ của doanh nghiệp để có được hợp đồng béo bở, khi áp dụng hình phạt thì tòa án kết án phải tính toán tổng giá trị các tài sản của doanh nghiệp và phạt tiền ở mức bảo đảm cho doanh nghiệp phá sản.

Trong mọi trường hợp, khi áp dụng hình phạt dưới hình thức chế tài phạt tiền thích đáng thì tòa án phải cân nhắc hai yếu tố – mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lỗi của tổ chức[34]. Yếu tố đầu tiên, “mức độ nghiêm trọng của tội phạm”, được xác định bằng cách tính toán lợi ích về tiền tệ, nhận được bởi các tổ chức do kết quả của những hành động bất hợp pháp, và các thiệt hại gây ra cho người bị hại bởi những hành động bất hợp pháp. Nói cách khác, số tiền mà tổ chức “kiếm được” càng lớn bằng cách phạm tội và các thiệt hại gây ra cho người bị hại càng đáng kể thì mức độ nghiêm trọng của tội phạm càng cao. Yếu tố thứ hai, “lỗi của tổ chức” xác định dựa trên một số yếu tố khác có thể được tóm tắt như sau: 1) Các biện pháp để phòng ngừa việc phát hiện và điều tra các hành động bất hợp pháp mà tổ chức đã thực hiện tính đến thời điểm thực hiện tội phạm; 2) Mức độ tham gia của một số loại nhân viên trong các hoạt động bất hợp pháp hoặc mức độ khoan dung đối với hoạt động bất hợp pháp; 3) Hành động của tổ chức sau khi phạm tội; 4) Lịch sử hoạt động của tổ chức. Rất hữu ích khi xem xét chi tiết tất cả những yếu tố này.

Phân tích các yếu tố đầu tiên – các biện pháp chu đáo của doanh nghiệp để ngăn chặn việc phát hiện và điều tra hành vi bất hợp pháp đến thời điểm phạm tội toà án đánh giá mức độ của tính hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp về “các kế hoạch tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức”. Để hỗ trợ cho các thẩm phán trong việc đánh giá này, Uỷ ban áp dụng hình phạt, xác định những tiêu chí sau đây là đặc điểm chính của tính hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức:

1. Các tổ chức phải soạn thảo và thực hiện chính sách tiêu chuẩn và thủ tục để phòng ngừa và khám phá các hoạt động bất hợp pháp.

2 (A) Bộ phận quản lý của tổ chức cần biết về các nội dung và việc áp dụng các kế hoạch theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức và thực hiện quyền kiểm soát hợp lý trong việc thực hiện và tính hiệu quả của kế hoạch thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

(B) Quản lý cao nhất của tổ chức phải đảm bảo rằng tổ chức có một kế hoạch hiệu quả về việc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức phù hợp với yêu cầu đặt ra trong hướng dẫn này. Trong số lãnh đạo cao cấp chỉ định một (một số) người chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

(C) Một (một số) nhân viên cụ thể phải kiểm soát hàng ngày đối với việc thực hiện kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Một (một số) nhân viên chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động được yêu cầu phải nộp báo cáo thường xuyên cho cấp trên và, trong trường hợp cần thiết, quản lý cấp trên hoặc cơ quan quản lý cấp trên về hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Nhân viên thực hiện kiểm soát hoạt động được cung cấp nguồn lực đầy đủ, quyền hạn đầy đủ và có thể trực gặp quản lý cấp cao hoặc cơ quan quản lý cấp cao của tổ chức.

3. Tổ chức phải có biện pháp hợp lý để ngăn chặn lọt vào thành phần của mình các nhân viên có thẩm quyền lớn mà tổ chức biết, hoặc buộc phải biết, là kết quả của sàng lọc trước, trước đó đã tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp hoặc các hành vi phạm mà không phù hợp với các nguyên tắc của một kế hoạch hiệu quả cho phù hợp với tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

4. (A) Tổ chức phải thực hiện các bước hợp lý để thường xuyên và với hình thức thiết thực để thu nhận thông tin của nhân viên nêu tại điểm (B), quy định tiêu chuẩn, thủ tục và các khía cạnh khác của kế hoạch để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả việc tổ chức các khóa đào tạo hiệu quả và sử dụng những cách khác để cung cấp cho nhân viên như thông tin mà họ cần phải thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.

Người lao động nêu tại điểm (A), là thành viên của cơ quan điều hành tối cao, quản lý cấp cao, các nhân viên với cấp bậc cao hơn, các nhân viên chủ chốt của tổ chức và, khi thích hợp, là đại diện của tổ chức.

5. Tổ chức phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm:

(A) đảm bảo phù hợp với các kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả giám sát và kiểm tra để phát hiện hành vi trái pháp luật;

(B) thường xuyên đánh giá hiệu quả của việc tuân thủ của tổ chức này với các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, cũng như

(C) và thực hiện một hệ thống để thông báo cho tất cả nhân viên để thực hiện một hệ thống có thể sử dụng các cơ chế để đảm bảo ẩn danh và bảo mật, thông qua đó nhân viên và đại diện tổ chức có thể không sợ bị trả thù, nói về việc sắp làm hay việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc được tư vấn về hành động của họ liên quan chuẩn bị hoặc tội phạm đã thực hiện.

6. Các chương trình của tổ chức để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức để phù hợp thực hiện và thực hiện trong toàn tổ chức thông qua các ứng dụng (A) khuyến khích thực hiện nhiệm vụ theo quy định của chương trình cho phù hợp với luật pháp và đạo đức (B) các biện pháp xử lý kỷ luật thích đáng đối với những hành động bất hợp pháp và không tuân thủ việc thực hiện các bước hợp lý để ngăn chặn hoặc khám pháp những hoạt động trái pháp luật.

7. Sau khi việc tiết lộ hành vi bất hợp pháp, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hợp lý để điều chỉnh hợp lý đối với vi phạm pháp luật và ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi phạm pháp tương tự trong tương lai, bao gồm cả việc tiến hành thay đổi và bổ sung cần thiết vào chương trình để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

8. Các tổ chức phải thường xuyên đánh giá rủi ro của các hoạt động trái pháp luật và có biện pháp thích hợp để thực hiện, áp dụng, thay đổi từng mệnh lệnh để giảm nguy cơ vi phạm pháp luật, được phát hiện trong giai đoạn kiểm tra này.

9. Trong phân tích các yếu tố thứ hai – mức độ tham gia thực hiện tội phạm của các thành viên chủ chốt của các tổ chức – Toà án phải xem xét quy mô của tổ chức này (dựa trên tổng số nhân viên) và mức độ tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp trong tổ chức hoặc sự tha thứ cho nó hay cố ý không hiểu của lãnh đạo cấp cao của nó. Trong phân tích yếu tố thứ ba – các hoạt động của tổ chức sau khi tội phạm – Toà án phải xác định xem các tổ chức có cản trở việc điều tra, xét xử trong một vụ án hình sự (tình tiết tăng nặng lỗi) hoặc ngược lại, để hợp tác với cơ quan điều tra và thừa nhận trách nhiệm của mình đối với các việc phạm tội (tình tiết giảm nhẹ lỗi). Trong phân tích các yếu tố thứ tư – lịch sử hoạt động của tổ chức – Toà án phải xác định được tổ chức trước đó có vi phạm pháp luật không, và đặc biệt là có vi phạm trong thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng đối với tổ chức chế tài xử lý về hình sự, dân sự hoặc hành chính đối với các vi phạm pháp luật tương tự.

Vì vậy, việc áp dụng một hình phạt thích hợp không liên quan đến việc sử dụng một công thức toán học cứng nhắc, mà yêu cầu xem xét, đánh giá các yếu tố định lượng, chẳng hạn như lợi ích tài chính cho tổ chức, và các chỉ số định tính, chẳng hạn như sự sẵn sàng của tổ chức trong hợp tác với cơ quan điều tra. Và mặc dù không có yếu tố riêng lẻ nào mà không có những ý nghĩa nhất định, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng hành vi của tổ chức sau khi phát hiện ra vi phạm đóng một vai trò quan trọng. Ví dụ, trong vụ án Mỹ kiện Công ty Du lịch hàng hải Na Uy (Mỹ kiện Cruise Lines Na Uy) và đã bị khởi tố về hành vi vi phạm pháp luật môi trường. Doanh nghiệp đã thừa nhận trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội, góp phần tích cực điều tra và nộp phạt 1 triệu đôla. Trong những vụ án khác, nhưng rất giống với hoàn cảnh thực tế với vụ trên là tại công ty du lịch biển «Royal Caribbean Cruise, Ltd», đã cản trở điều tra, cuối cùng đã bị buộc phải trả tiền phạt 25 triệu đôla[35].

3. Kết luận

Năm 1991, “Ủy Ban tuyên án của Mỹ ban hành những hướng dẫn tuyên án chung đầu tiên (USSG) để xác định những bản án hình sự được áp dụng đối với các doanh nghiệp phạm tội tại các tòa án liên bang,” “bao gồm sự gia tăng trong việc áp dụng những khoản tiền phạt lớn và mở rộng ủy thác nhiệm vụ của giám đốc doanh nghiệp”[36][37]. Điều đáng nói là, theo các hướng dẫn này, nhân sự cấp cao của một công ty đã được yêu cầu phải giám sát sự tuân thủ tất cả các luật của tiểu bang và liên bang có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp”[38]. Năm 2004 Ủy ban đã ban hành hướng dẫn mới mà tăng lên đáng kể “mức độ trách nhiệm của cán bộ và giám đốc doanh nghiệp đối với hoạt động phạm tội hoặc hoạt động vô nguyên tắc, vô kỷ luật trong Công ty”.

Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy rằng các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan việc truy tố hình sự đối với pháp nhân, chẳng hạn như khả năng xác định trạng thái tâm lý và ý định trong hoạt động của các tổ chức, cũng như khả năng áp dụng một hình phạt thích đáng, có thể dễ dàng giải quyết. Nhưng kinh nghiệm của Hoa Kỳ cũng chứng minh rằng chế định TNHS của pháp nhân là một vũ khí thực thi pháp luật mạnh mẽ có khả năng gây hậu quả thảm khốc cho số lượng lớn bất kỳ người dân vô tội nào. Vì vậy, việc đưa chế định này vào pháp luật hình sự của quốc gia phải đồng thời giới thiệu những hướng dẫn nghiêm ngặt cho các công tố viên và thẩm phán để bảo đảm sử dụng có trách nhiệm và phù hợp của các loại vũ khí để trừng phạt và ngăn chặn vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, chứ không phải để tống tiền.


[1] [128] Beale, S.S. and Safwat, A.G., “What Developments in Western Europe Tell Us About American Critiques of Corporate Criminal Liability.” 8 Buff. Crim. L. Rev. 89, 126-27, 2004 (Бил С.С. и Сэфуат А.Джи. Что последние события в Западной Европе говорят нам о критикуемой в США уголовной ответственности юридических лиц, 2004 г .).

[2] [129] Khanna, V.S., “Corporate Criminal Liability: What Purpose Does It Serve?” 109 Harv. L. Rev. 1477, 1479-1480, May 1996. (Хана В.С. Уголовная ответственность юридических лиц: для чего она нужна? Май1996 г.).

[3] [130] Anonymous Case (No. 935), 88 Eng. Rep. 1518, 1518 (K.B. 1701).

[4] [131] The State v. the Morris and Essex Railroad Co., 23 N.J.L. 360 (1852).

[5] [132] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge, 668 Mass 339 (1854).

[6] [133] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge, 668 Mass 339, 345.

[7] [134] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge, 668 Mass 339, 345.

[8] [135] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge, 668 Mass 339, 346.

[9] [136] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge, 668 Mass 339, 346.

[10] [137] New York Central & Hudson River Railroad Co. v. United States, 212 U.S. 481, 495 (1909).

[11] [138] New York Central & Hudson River Railroad Co. v. United States, 212 U.S. 481, 495 (1909).

[12] [139] New York Central & Hudson River Railroad Co. v. United States, 212 U.S. 481, 495 (1909).

[13] [140] 18B Am. Jur. 2d Corporations §1844.

[14] [141] Granite Construction Co. v. Superior Court, 149 Cal. App. 3d 465, 467 (5th Dist. 1983).

[15] [142] U.S. v. Twentieth Century Fox Film Corporation and Leila J. Goldstein, 882 F.2d 656 (2d Dist. 1989), at 660.

[16] [143] U.S. v. International Minerals & Chemical Corp., 402 U.S. 558 (1971).

[17] [144] at 291, quoting Model Penal Code § 2.07(1)(a).

[18] [145] quoting Model Penal Code § 2.07(1)(a).

[19] [146] Edward B. Diskant, “Comparative Corporate Criminal Liability: Exploring the Uniquely American Doctrine Through Comparative Criminal Procedure.” The Yale Law Journal , October 2008, v.118:i1, p.126-176, at p. 128.

[20] [147] Id. at 129.

[21] [148] United States v. Bank of New England , N.A., 821 F .2d 844, 855 (1st Cir. 1987).

[22] [149] United States v. Bank of New England , N.A., 821 F .2d 844, 855 (1st Cir. 1987).

[23] Joel M. Androphy, Richard G. Paxton & Keith A. Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex. B.J. 124 (1997). (Джоел М. Андрофи, Ричард Джи. Пакстон и Кит А. Байерс. Общая уголовная ответственность юридических лиц, 1997 г .).

[24] [151] United States v. Bank of New England , N.A., 821 F .2d 844, 856 (1st Cir. 1987).

[25] [152] Joel M. Androphy, Richard G. Paxton & Keith A. Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex. B.J. 121 (1997).

[26] [153] Joel M. Androphy, Richard G. Paxton & Keith A. Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex. B.J. 121 (1997).

[27] [154] United States v. BI-Co Pavers, 741 F .2d 730, 737 (5th Cir. 1984).

[28] [155] United States v. Hilton Hotels Corp., 467 F .2d 1000, 1004-07 (9th Cir. 1972).

[29] [156] Standard Oil Co. of Texas v. United States , 307 F .2d 120, 128 (5th Cir. 1962).

[30] [157] Standard Oil Co. of Texas v. United States , 307 F .2d 120, 128 (5th Cir. 1962).

[31] [158] United States v. American Medical Laboratories, 770 F .2d 399, 407 (4th Cir. 1985).

[32] [159] United States Sentencing Guidelines (“USSG”), Chapter 8, Introductory Commentary. (Руководство США по назначению наказания. Глава 8, Вступительные комментарии)

[33] [160] USSG, Chapter 8, Introductory Commentary

[34] [161] USSG, Chapter 8, Introductory Commentary.

[35] [162] David M. Nissman, Corporate Crime Prevention Programs, United States Attorneys Bulletin, November 2003, p. 23 (Дэвид М. Ниссман. Корпоративные программы по предотвращению преступлений. Бюллетень федеральных прокуроров США, ноябрь 2003 г ., с. 23).

[36] [163] Jeffery S. Parker and Raymond A. Atkins, “Did the Corporate Criminal Sentencing Guidelines Matter? Some Preliminary Empirical Observations.” Journal of Law and Economics, v.42:n1 part 2 (April 1999), pp. 423-53, at 423.

[37] [164] Jeffery M. Kaplan, “The New Corporate Sentencing Guidelines.” Ethikos and Corporate Conduct Quarterly, July/August 2004. Available at: http://www.singerpubs.com/ethikos/html/guidelines2004.html

[38] [165] Keven M. Hart, “New Sentencing Guidelines for Corporate Directors and Officers.” New Jersey Law Blog, published by Stark & Stark: Nov. 2004, available at: http://www.njlawblog.com/2004/11/articles/corporate- investigations-white/new-sentencing-guidelines-for-corporate-directors-and-officers/.

One thought on “91. Trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Mỹ

  1. Pingback: 85. Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức – Vietnamese Corporate Law

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s