89. Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của tổ chức

Bài dưới đây là Chương 1 trong Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức ủa Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ tư pháp do TS Cao Thị Oanh làm chủ nhiệm đề tài, xuất bản năm 2011.

Vì lý do kỹ thuật, tất cả các trích dẫn cuối trang (footnotes) trong tài liệu gốc được chuyển thành trích dẫn cuối tài liệu (endnotes) và số trong [ngoặc vuông] thứ hai trong endnotes chính là footnotes trong tài liệu gốc.

Chương 1 – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỔ CHỨC

1.1. Các quan điểm về trách nhiệm hình sự của tổ chức

Khi nghiên cứu vấn đề TNHS của tổ chức ở một số nước thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, chúng tôi thấy rằng, mặc dù quy định TNHS của tổ chức là xu thế tất yếu hiện nay trong pháp luật hình sự thế giới, nhưng cũng có không ít nước vẫn chưa chấp nhận chế định này. Vì vậy, trong khoa học luật hình sự trên thế giới vẫn tồn tại hai quan điểm lý luận trái ngược nhau về vấn đề này: quan điểm phản đối và quan điểm ủng hộ TNHS của tổ chức trong luật hình sự.

1.1.1. Quan điểm phản đối trách nhiệm hình sự của tổ chức

Nghiên cứu vấn đề TNHS của tổ chức trong luật hình sự nhiều nước trên thế giới cho thấy các lý do để những người không ủng hộ TNHS của tổ chức mà đại diện chủ yếu là các nhà hình sự học theo học thuyết cổ điển (hay còn gọi là học thuyết truyền thống) đưa ra để bác bỏ chế định này là: 1/ TNHS của tổ chức không phù hợp với nguyên tắc hành vi và nguyên tắc lỗi trong luật hình sự; 2/ TNHS của tổ chức không phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa TNHS và mục đích giáo dục của hình phạt; 3/ khả năng áp dụng hình phạt (hình thức TNHS) đối với tổ chức; và 4/ TNHS của tổ chức không phù hợp với quan niệm đạo đức, nguyên tắc công bằng trong luật hình sự[1].

Theo học thuyết cổ điển, truyền thống, tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu thuộc hành vi khách quan (actus reus – Lat.) và dấu hiệu lỗi chủ quan (mens rea – Lat.). Hành vi khách quan của tội phạm phải do chính người phạm tội trực tiếp thực hiện. Pháp nhân là một thực thể pháp lý trừu tượng. Pháp nhân là một người vô hình, do các thành viên hợp lại, và đại diện cho tất cả các thành viên. Do không phải là thực thể hữu hình, nên pháp nhân không thể tự mình trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; hành vi phạm tội được quy kết cho pháp nhân là do những cá nhân, đó là các cơ quan, nhân viên thừa hành hoặc người được ủy quyền của pháp nhân thực hiện[2]. Mặc dù trong thực tiễn, các cơ quan, nhân viên thừa hành hoặc người được ủy quyền của pháp nhân có thể phạm tội trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng không thể nói hành vi đó là hành vi của pháp nhân; và vì vậy, sẽ là không hợp lý nếu quy kết hành vi phạm tội đó cho chính bản thân pháp nhân[3].

Từ góc độ chủ quan, lỗi là thái độ tâm lý (nhận thức và ý chí) của người phạm tội đối với hành vi người đó thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây nên. Cũng theo quan điểm này, pháp nhân không có thể xác và cũng chẳng có linh hồn, nó chỉ là những cấu trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành viên của pháp nhân. Các nghị quyết, các quyết định của pháp nhân chỉ là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên chứ không phải từ sự mong muốn của chính bản thân pháp nhân[4]. Savigny nhấn mạnh: “Pháp nhân… chỉ là một thực thể trừu tượng… sự tồn tại thực tế của nó dựa trên các quyết định của một hoặc một số những người đại diện mà chiểu theo sự trừu tượng được xem như là các quyết định của chính bản thân pháp nhân, một sự đại diện như thế… loại trừ ý chí theo đúng nghĩa”[5]. Như vậy, có thể nói là không có lỗi nào có thể được quy kết cho pháp nhân – một thực thể trừu tượng không có nhận thức và cũng không thể có ý chí[6].

Nói tóm lại, theo quan điểm truyền thống này thì nếu đối với các thể nhân, có thể quy kết hành vi vật chất khách quan của vụ việc phạm tội và thái độ chủ quan tội lỗi của chính họ cho mỗi tội phạm thì pháp nhân dưới lăng kính của học thuyết cổ điển, vì không có thể hành động trực tiếp, không có sự bấu víu trực tiếp nào vào thực tế khách quan và thiếu tự do ý chí, khả năng nhận thức nên nó (pháp nhân) về bản chất là những thực thể không tương thích cho việc thực hiện hành vi phạm tội[7].

Việc trừng trị pháp nhân, tổ chức không chỉ không công bằng mà còn tỏ ra khó tương hợp với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt[8]. Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt đòi hỏi tòa án khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp phải căn cứ vào hành vi và sự tham gia cụ thể của họ vào tội phạm bị truy cứu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đặc biệt là các yếu tố nhân thân người phạm tội. Trong khi một tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân, thì hoặc là toàn bộ các thành viên của pháp nhân đã phạm tội cần phải bị trừng trị có sự phân biệt và tương xứng với lỗi của từng người, hoặc là chỉ trừng trị một hoặc một số người trong pháp nhân đã cùng (đồng phạm) thực hiện hành vi phạm tội. Sẽ là đúng, công bằng nếu chỉ trừng trị những

người đó; sẽ là không công bằng nếu lại trừng trị cả những thành viên khác trong pháp nhân[9] chỉ vì lý do họ thuộc về một tập thể hoặc là họ phụ thuộc vào nó. Nếu trừng trị một thực thể như vậy cuối cùng sẽ không công bằng và không có lợi. Trừng phạt một thực thể tập thể sẽ gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác thuộc pháp nhân vốn là những người hoàn toàn không biết đến, không có lỗi gì liên quan đến hành vi phạm tội của những người khác. Donnedieu De Vabres viết: “Nằm trong sự tất yếu của sự việc là bắt một pháp nhân phải chịu một hình phạt có những hậu quả bất lợi đối với những người thứ ba vô tội”[10].

Những người theo học thuyết cổ điển chống lại TNHS của pháp nhân không chỉ bằng lý lẽ là pháp nhân không có khả năng phạm tội, không thể có lỗi mà hơn thế, họ cho rằng các chế tài hình sự, là sự kết án về mặt đạo đức và mệnh lệnh bắt buộc trái với ý muốn của các thể nhân, nhất thiết không thể áp dụng được cho pháp nhân, tổ chức. Dù sao chăng nữa các pháp nhân cũng không thể chịu một hình phạt nào đó có hữu ích[11].

Đã một thời gian dài các nhà hình sự học theo học thuyết cổ điển nói về sự không thể trừng trị pháp nhân hoặc chí ít cũng là khó khăn về mặt thực tế khi áp dụng chế tài hình sự cho pháp nhân[12]. Các hình phạt được coi là đặc trưng, truyền thống và có hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù… không thể áp dụng được đối với pháp nhân. Người ta có thể phạt tù, bắt giam như thế nào đối với một thực thể mà bản chất của nó là vô hình? làm thế nào có thể tước mạng sống của một chủ thể giả tưởng mà bản chất của nó là thiếu sự tồn tại của thực thể hữu hình[13]. Vì vậy, việc quy định TNHS nhưng không thể áp dụng các hình phạt đặc trưng trên đối với pháp nhân làm cho việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân không còn có nhiều ý nghĩa, không đạt được mục đích giáo dục, phòng ngừa.

Ngược lại, mặc dù các học giả theo học thuyết truyền thống không chối bỏ khả năng áp dụng các loại hình phạt khác như phạt tiền, tịch thu tài sản, tước một số quyền… nhưng họ lại đưa ra lập luận là việc trừng trị một pháp nhân sẽ dẫn đến việc xử lý không có sự phân biệt các thành viên của pháp nhân, sẽ dẫn đến trừng trị cả với những người không tham gia phạm tội[14]. Theo Thomas Hobbes, cái giá thực sự khi áp dụng TNHS, xét đến cùng, chính các pháp nhân không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân như: người góp cổ phần, cổ đông, người lao động… phải chịu. Như vậy, chế định TNHS của pháp nhân không thể chấp nhận được về phương diện pháp lý cũng như về đạo lý[15].

1.1.2. Quan điểm ủng hộ trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Nghiên cứu so sánh vấn đề TNHS của pháp nhân cho thấy rằng càng ngày, nhất là từ nửa cuối thế kỷ trước đến nay, ngày càng có nhiều văn bản từ cả góc độ pháp luật quốc tế lẫn các quốc gia quy định TNHS của tổ chức. Đồng thời, cũng càng ngày càng có nhiều nhà hình sự học ủng hộ TNHS của tổ chức. Những người theo quan điểm này không chỉ bác bỏ các lập luận của những người theo học thuyết cổ điển, mà còn nhìn nhận vấn đề từ góc độ nhận thức hiện đại, từ thực tiễn và nhu cầu phát triển xã hội hiện đại. Các nhà hình sự học ủng hộ việc áp dụng TNHS của pháp nhân cũng đã có những lập luận khoa học để bảo vệ quan điểm của mình. Với kết quả nghiên cứu của mình, chúng tôi hoàn toàn chia sẻ các lập luận khoa học đó.

Quan điểm cho rằng chỉ duy nhất các thể nhân mới trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, có năng lực biểu lộ ý chí của chính mình khi thực hiện hành vi phạm tội và vì vậy, chỉ có thể nhân thực hiện tội phạm mới phải chịu TNHS. Quan niệm cho rằng các pháp nhân chỉ là những trừu tượng pháp lý (fiction juridique) ngày nay đã không còn được chấp nhận, không còn phù hợp với thực tế tồn tại của các pháp nhân với tư cách là “đại diện cho các sức mạnh của thời đại”[16].

Các học thuyết pháp lý và thực tiễn xét xử của toà án nhiều nước đã thoát khỏi quan niệm trên và hình thành nên nhận thức mới về vị trí, vai trò của pháp nhân trong xã hội cùng với việc từ bỏ quan niệm thuần tuý cho rằng chỉ có cá nhân mới phải chịu TNHS[17].

Pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần tuý, nó những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, có sự tồn tại thực tế của nó trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân. Về thực tế, pháp luật đã ghi nhận và tổ chức nó trên phương diện pháp lý. Pháp nhân có ý chí độc lập chứ không đơn thuần chỉ là con số cộng ý chí của các cá nhân thành viên pháp nhân, tập đoàn được pháp nhân hoá; pháp nhân có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó[18]. Nói cách khác, các tổ chức mặc dù bao gồm các cá nhân nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua các cấu trúc pháp lý xác định. Trong các tổ chức, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân, tổ chức hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình.

“Pháp nhân không phải là một thể nhân, mà là một tổ chức – tập hợp của nhiều người – được pháp luật trao cho tư cách của một người trong các quan hệ pháp luật. Hoạt động của một người (thể nhân) có thể bị chi phối bởi lý do tình cảm, lý trí nhưng một hoạt động của pháp nhân thì không. Pháp nhân chỉ theo đuổi những mục tiêu đặt ra trong văn kiện sáng lập tổ chức đó”[19]. “Trên thực tế, hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể do một tập thể gây ra do kết quả của việc đưa ra những quyết định sai trái. Một số tội phạm, trên thực tế, cũng có thể do cá nhân hoặc tổ chức gây ra. Ví dụ, các tội phạm về kinh tế, về môi trường có thể là kết quả của hành vi tập thể của xí nghiệp công nghiệp, đơn vị kinh doanh nào đó”[20].

Nói tóm lại, pháp nhân không phải là một chủ thể trừu tượng mà là một chủ thể độc lập, có ý chí. Pháp nhân có thể, với nhiều danh nghĩa, được so sánh với con người. “Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm. nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo các mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương”[21]. Như vậy, pháp nhân rõ ràng là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về hình sự. Theo quan niệm đã được thừa nhận chung, lỗi trong luật hình sự là thể hiện tự do ý chí của chủ thể (tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và có khả năng lựa chọn hành vi hợp pháp) thì pháp nhân cũng hoàn toàn tự do khi lựa chọn hành vi của mình. Vì vậy, trừ một số tội phạm được kết tội khách quan (strict liability) ở một số quốc gia theo hệ thống common law, việc quy kết TNHS cho pháp nhân là hoàn toàn hợp lý trên cơ sở lỗi chứ không phải là quy tội khách quan.

Một vấn đề nữa đặt ra là pháp nhân không tự mình thực hiện tội phạm mà phải qua hành vi của các cá nhân. Vậy thì, việc quy kết hành vi đó cho pháp nhân là có hợp lý hay không.

Nhìn chung tuyệt đại đa số các học giả ủng hộ thiết lập TNHS của pháp nhân trong luật hình sự đều ủng hộ học thuyết đồng nhất hoá hành vi của tập thể với hành vi cá nhân trong những điều kiện nhất định[22]. Xuất phát từ sự tương tự hình thức giữa pháp nhân và cá nhân, những người ủng hộ học thuyết này quy kết sự biểu lộ các quyết định của tập thể vào sự tồn tại một ý chí thống nhất trong cá nhân của người đại diện, người lãnh đạo pháp nhân. Các pháp nhân có ý thức, ý chí, mong muốn của riêng mình cùng với tư cách như các cá nhân. Theo quy định của pháp luật, quy chế, điều lệ của pháp nhân thì người đại diện, người lãnh đạo được thay mặt cho pháp nhân ra các quyết định, thực hiện các hành vi thuộc thẩm quyền của pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Mọi hậu quả có lợi cũng như bất lợi phát sinh từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ sở tự do ý chí của người đại diện, người lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng hoặc gánh chịu. Vì vậy, khi người đại diện, người lãnh đạo thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ được đồng nhất hoá với pháp nhân, tức là được coi như là ý chí và hành vi của pháp nhân[23].

Các nhà hình sự học ủng hộ TNHS của pháp nhân cũng đã phản bác quan điểm cho rằng các pháp nhân về bản chất là những thực thể vô hình nên không thể áp dụng hình phạt đối với nó.

Theo các nhà hình sự học theo quan điểm này, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học về hình phạt, quan điểm không thể áp dụng hình phạt với pháp nhân đã không còn có sức thuyết phục. Mặc dù tử hình hoặc các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể không thể áp dụng với pháp nhân phạm tội nhưng những loại hình phạt khác dần dần được phát triển tương hợp hoàn toàn với bản chất các tổ chức và pháp nhân phạm tội với mục đích làm cho nó phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của hành vi phạm tội mà nó đã gây ra cho xã hội. Năm 1880, trong một quyết định xử phạt một pháp nhân về tội phỉ báng và bôi nhọ (defamatory libel)[24], Lord Blacburn, thẩm phán viện nguyên lão (house of lord) đã nhận định: “Trong một mức độ nhất định, tôi đồng ý là pháp nhân không thể bị phạt tù, một pháp nhân không thể bị treo cổ hoặc bị phạt tử hình nếu hình phạt như vậy là hình phạt cho trọng tội liên quan. Nhưng, phạt tiền có thể buộc một pháp nhân phải chịu và pháp nhân này có thể trả tiền bồi thường thiệt hại vật chất. Vì vậy, tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm cho rằng một thực thể pháp lý được thành lập với mục đích phát hành báo chí, không thể bị xét xử và tuyên phạt một hình phạt tiền… hoặc với quan điểm là một pháp nhân gây hại cho cộng đồng nhưng lại không thừa nhận pháp nhân này phạm tội gây thiệt hại đó hoặc một tội tương tự”.

Lịch sử phát triển pháp luật hình sự trong thế giới hiện đại cho thấy rõ xu hướng giảm hoặc thay thế các hình phạt được cho là truyền thống quá nghiêm khắc như tử hình, tước tự do bằng các hình phạt nhân đạo hơn không tước tự do nhưng có giá trị phòng ngừa cao hơn, đặc biệt là các hình phạt liên quan đến tài sản hoặc hoạt động của tổ chức. Pháp nhân có các quyền và có tài sản. Vì vậy, đối với pháp nhân có thể áp dụng các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền hoặc tài sản. Kinh nghiệm tư pháp hình sự trong lĩnh vực này ở nhiều nước như Anh, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Trung Quốc… đã chỉ ra rằng hệ thống hình phạt đủ mềm dẻo để cung cấp những hình phạt và những biện pháp cưỡng chế phù hợp cho việc xử phạt các tổ chức liên quan đến sự tồn tại của nó như giải thể, đóng cửa; liên quan đến hoạt động của nó như cấm tiến hành những hoạt động nhất định; hoặc liên quan đến tài sản như phạt tiền, tịch thu tài sản… các hình phạt này không chỉ có tính cưỡng chế, mà còn có giá trị phòng ngừa cao.

Quan điểm cho rằng việc quy kết TNHS và áp dụng hình phạt với pháp nhân sẽ không công bằng và không phù hợp với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt là không phù hợp với quan điểm hình sự học hiện đại. Ngược lại, có thể nói việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội còn thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật hình sự được củng cố.

Theo khoa học hình sự hiện đại thì nguyên tắc cá thể hoá hình phạt không thể tách rời khỏi nhận thức về chế tài áp dụng đối với pháp nhân, tổ chức. Nếu pháp nhân, tổ chức là những thực thể có khả năng phạm tội thì có lý nào các pháp nhân lại không bị chịu sự trách cứ về hình sự của nhà nước khi nó phạm tội. Chế tài hình sự buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những tổ chức, khi các thực thể này phạm tội[25]. Công bằng không có nghĩa là phải trừng trị cá nhân này hoặc cá nhân khác, thành viên của tổ chức hoặc pháp nhân có liên quan nhiều hơn mà công bằng chính là buộc tổ chức cụ thể phạm tội phải chịu hình phạt. Không có lý lẽ công bằng nào mà lại buộc cá nhân những người cấp dưới vốn chẳng có quyền hành gì và các nhà quản lý có trách nhiệm thành những người phải hứng chịu hậu quả thay cho tổ chức phạm tội[26]. Cũng không có sự công bằng nào mà về cùng một hành vi phạm tội lại có những cách đối xử khác nhau, đối với pháp nhân phạm tội cùng loại thì xử lý bằng các biện pháp trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hành chính, còn đối với cá nhân những người lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân lại bị trừng trị bằng biện pháp TNHS nghiêm khắc hơn nhiều.

Trong những trường hợp tổ chức phạm tội thì “công lý đòi hỏi phải có hình phạt trực tiếp đối với bản thân tổ chức đó. Và đến lượt mình, bằng cách thúc đẩy và củng cố nhận thức chung của công dân và đòi hỏi các tổ chức phải quản lý, kiểm soát những nguy cơ gây hại một cách tốt hơn, các hình phạt này buộc các tổ chức nói trên phải thiết lập những hệ thống quản lý và kiểm soát nguy cơ một cách có hiệu quả, qua đó góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ của công dân”[27].

Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt không thể tách rời mối liên hệ giữa tội phạm và hình phạt. Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi hình phạt áp dụng đối với pháp nhân, tổ chức phạm tội phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tương xứng với các đặc điểm của tổ chức bị truy cứu TNHS. Có như vậy, hình phạt được áp dụng mới đạt được tính hiệu quả trong trừng trị cũng như phòng ngừa.

Quan điểm cho rằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội là vi phạm nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, theo chúng tôi đã có sự nhầm lẫn về nguyên tắc này. Thực tế cho thấy tất cả các bản án đều có thể gây ra những hậu quả cho người thứ ba vô can. Bắt giam một người hoặc phạt họ với một hình phạt tiền nghiêm khắc có thể cướp đi của gia đình họ một khoản thu nhập nhưng nó không trái với nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, bởi vì bản án không trực tiếp nhằm chống lại các thành viên của gia đình người bị kết án mà là đối với người phạm tội. Bản án kết tội đối với một pháp nhân khác với bản án có thể xảy ra của các thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân các thành viên của pháp nhân mà là chính pháp nhân – chủ thể chịu TNHS.

Tóm lại, có thể nói rằng về mặt lý luận, khoa học hình sự hiện đại đã giải quyết tương đối cơ bản, có cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, vấn đề TNHS của pháp nhân. Ngày nay, việc thừa nhận TNHS của pháp nhân là xu hướng phát triển chung trong pháp luật hình sự trên thế giới mức độ pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia. TNHS của pháp nhân đã chính thức được khuyến nghị trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế[28]. TNHS của tổ chức cũng đã được điều chỉnh về mặt lập pháp trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới, không chỉ ở các nước theo truyền thống common law và châu Âu lục địa mà còn được thừa nhận ở cả một số nước châu Á, trong đó có các nước Asean, các nước đông Á và đặc biệt là Trung Quốc, một nước láng giềng của Việt Nam mà cách đây không lâu còn phản đối kịch liệt việc chấp nhận TNHS của pháp nhân.

Tuy nhiên, ở các quốc gia, quy định TNHS của tổ chức hoặc pháp nhân xuất phát từ các quan niệm khác nhau về lý luận và điều kiện kinh tế xã hội, nên phạm vi, mức độ cũng như hình thức TNHS được áp dụng cũng có khác nhau. Trong pháp luật hình sự, pháp nhân, tổ chức nào phải chịu TNHS; loại tội phạm nào tổ chức phải chịu TNHS; nếu tổ chức hay pháp nhân phạm tội thì các loại hình phạt nào, các biện pháp tư pháp hình sự nào đươc áp dụng… đang được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia.

1.2. Các học thuyết về trách nhiệm hình sự của tổ chức

Như đã phân tích trên, trong lịch sử pháp luật hình sự thế giới, một thời gian dài, TNHS cá nhân, TNHS theo lỗi và cá thể hóa hình phạt được xác định và ghi nhận như là những nguyên tắc của luật hình sự. Cùng với sự phát triển của luật hình sự và tình hình tội phạm, khi mà tội phạm có tổ chức, các tổ chức phạm tội phát triển; các tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền… xảy ra ngày càng nghiêm trọng, trong đó vai trò tổ chức chủ yếu thay thế cho cá nhân trong việc thực hiện tội phạm. Đặc biệt, trong một số trường hợp nhiều khi khó giải thích tại sao lại truy cứu TNHS cá nhân… thì quan niệm chỉ có TNHS cá nhân đã được thay đổi nhanh chóng, nhất là thời gian nửa sau thế kỷ XX ở cả mức độ pháp luật quốc tế lẫn quốc gia.

Ở mức độ pháp luật quốc gia, số lượng các quốc gia quy định TNHS pháp nhân hay tổ chức ngày càng tăng. Xu thế quy định TNHS của tổ chức được coi là tất yếu trong sự phát triển của luật hình sự thế giới. Ở các quốc gia theo hệ thống thông luật, TNHS của tổ chức đã được quy định tương đối lâu; còn các quốc gia theo hệ thống luật lục địa, mặc dù muộn hơn nhưng cũng đã chấp nhận quan điểm TNHS của tổ chức nhằm đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm trong xã hội hiện đại. Ở các quốc gia chưa quy định TNHS của tổ chức, vấn đề trách nhiệm của tổ chức đều được quy định trong pháp luật dân sự và hành chính. Theo pháp luật của các quốc gia này thì pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại thì phải khắc phục hậu quả, phải bồi thường thiệt hại (luật dân sự) hoặc phải khắc phục hậu quả và bị xử phạt (luật hành chính)[29].

Ở mức độ pháp luật quốc tế, ngày càng nhiều công ước quốc tế cũng như khu vực quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên ghi nhận TNHS của tổ chức hoặc pháp nhân trong pháp luật quốc gia. Các công ước đó bao gồm: Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 10); Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (Điều 26); Tổ chức vì công ước quốc tế về hợp tác và phát triển kinh tế chống nạn hối lộ công chức nước ngoài (Điều 2),

Công ước Cộng đồng châu Âu về chống tham nhũng bằng luật hình sự (Điều 18)…[30].

Theo quan niệm truyền thống, cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm. Nói cách khác, cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi cấu thành tội phạm. Để truy cứu TNHS đối với một người, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được hành vi phạm tội và yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi đó. Quan điểm tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan đã được thừa nhận chung trong lý thuyết truyền thống về tội phạm. Điều này hoàn toàn đúng khi TNHS được áp dụng đối với thể nhân.

Tuy nhiên, đối với pháp nhân, tổ chức, “con người pháp lý” được hình thành nên bởi sự kết hợp của nhiều thể nhân và “hành vi” của nó được thực hiện thông qua các thể nhân cụ thể, thì lý thuyết truyền thống trở nên bất cập. Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vướng mắc về mặt lý luận trong việc áp dụng TNHS đối với tổ chức, các nhà luật học trên thế giới đã đưa ra các học thuyết làm nền tảng và luận giải cho vấn đề này. Khoa học luật hình sự thế giới ghi nhận các học thuyết cơ bản là thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability), thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability) và thuyết văn hóa (Systems/Culture Theory)[31]:

1.2.1. Học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability):

Trách nhiệm thay thế là hình thức đặc trưng trong luật dân sự. Học thuyết áp đặt trách nhiệm lên người đứng đầu hoặc tổ chức đối với hành vi của người làm công hoặc đại lý. Theo học thuyết này, tổ chức phải chịu trách nhiệm về hành vi của bất kỳ người làm công hay đại lý của mình nếu giữa tổ chức và người làm công hay đại lý đó có mối quan hệ ràng buộc theo pháp luật hoặc hợp đồng. Học thuyết này được phát triển có nguồn gốc từ lĩnh vực trách nhiệm dân sự, được áp dụng trong lĩnh vực hình sự chủ yếu là đối với các tội phạm chịu trách nhiệm tuyệt đối.

Để áp dụng TNHS đối với tổ chức theo học thuyết này, cần phải: 1/ Xác định người làm công hoặc đại lý có hành vi cấu thành tội phạm theo quan niệm truyền thống; 2/ “Áp đặt” TNHS của các cá nhân đó lên tổ chức dựa trên mối quan hệ pháp lý giữa họ trên cơ sở quy định của pháp luật về đại lý hoặc làm công. Nói cách khác, tổ chức phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do đại lý hay người làm công thực hiện trong những điều kiện xác định.

Theo học thuyết trách nhiệm thay thế, bất cứ điều gì mà người làm công, người làm đại lý cho tổ chức thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa tổ chức với nhân viên theo quy định của pháp luật đều được coi là chính của tổ chức thực hiện. Người làm công, làm đại lý phải thực hiện những công việc mà tổ chức giao, đồng thời phải tuân thủ những nội quy, quy định mà tổ chức đề ra. Cho nên, khi có sai phạm của người làm công, người làm đại lý thì tổ chức phải gánh chịu.

Trách nhiệm thay thế được áp dụng không chỉ vì nó lý giải mang tính hợp lý, gần gũi với pháp luật dân sự, pháp luật hành chính mà còn vì hiệu quả thực tế mà nó mang lại. Việc buộc tổ chức phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của người làm công, người làm đại lý (bao gồm hình phạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả…) sẽ có tính hiệu quả hơn vì khả năng tài chính của tổ chức. Đồng thời, tính phòng ngừa của học thuyết này cũng rất quan trọng, bởi vì việc áp dụng TNHS buộc tổ chức phải có những biện pháp hạn chế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, nâng cao trách nhiệm trong quản lý, kiểm soát nhân viên, đòi hỏi nhân viên thực hiện các hoạt động phù hợp pháp luật. Trong thực tế, thuyết này được áp dụng rất chặt chẽ, nó đòi hỏi mối quan hệ lệ thuộc giữa người chủ và người lao động đã thực hiện tội phạm để xác định TNHS đối với người chủ (người sử dụng lao động).

Mặc dù vậy, theo chúng tôi, học thuyết trách nhiệm thay thế có phạm vi quá rộng khi quy định tổ chức phải chịu TNHS trong trường hợp bất kỳ một nhân viên, đại lý nào (không phân biệt chức vụ, vị trí công tác) có hành vi phạm tội vì lợi ích của tổ chức. Điều này càng bất cập trong thời đại công nghiệp hóa, toàn cầu hóa với sự hình thành các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn có hàng vạn nhân công làm việc trên lãnh thổ nhiều quốc gia khác nhau hiện nay.

Một trong những luận điểm phê phán thuyết này là vì nó vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi cá nhân, bởi vì lỗi của một người lại bị quy kết một cách tự động cho người khác, mặc dù không có lỗi cá nhân từ phía họ.

Hiện nay, lý thuyết TNHS thay thế còn được áp dụng bởi các toà án Anh và Mỹ[32] nhưng bị loại bỏ bởi thực tiễn xét xử ở Canada và một số nước khác như là cơ sở của TNHS pháp nhân, nhất là liên quan tới các tội phạm đòi hỏi yếu tố lỗi[33]. Trong quyết định vụ án “min. de l’ emploi et de immigration c.bhatnager” năm 1990[34], Tòa án tối cao của Canada đã chỉ rõ việc áp dụng trường phái trách nhiệm thay thế trong luật hình sự là đối lập với các nguyên tắc cơ bản của nền tư pháp dân chủ.

1.2.2. Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (identification liability)

Từ gần một thế kỷ nay các toà án Anh đã xây dựng TNHS của pháp nhân trên nền tảng lý thuyết đồng nhất hoá. Ngày nay lý thuyết về đồng nhất hoá được áp dụng để quy kết TNHS đối với pháp nhân ở tất cả các nước theo truyền thống common law. Thuyết về đồng nhất hoá có nguồn gốc từ phán quyết trong vụ án điển hình (leading case) “lennard’s carrying company ltd. v. Asiatic petroleum company ltd” năm 1915[35]. Viện nguyên lão (house of lords) trong khi xử lý vụ án này đã cho rằng một số người chủ yếu có quyền quyết định trong pháp nhân được đồng nhất hoá với pháp nhân tới mức các hành vi mà họ thực hiện vì lợi ích của pháp nhân luôn luôn được đánh giá như là các hành vi của pháp nhân. Toàn bộ yếu tố lỗi thuộc về những người này cũng được coi là của pháp nhân.

Tư tưởng chính của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm thể hiện cơ bản chỗ học thuyết này coi hành vi và lỗi của những người quản lý (chỉ đạo, điều hành) tổ chức như chính là hành vi, lỗi của tổ chức (đồng nhất cá nhân với tổ chức). Hay nói cách khác, hành vi, lỗi của tổ chức được đánh giá thông qua hành vi, lỗi của cá nhân những người chỉ huy, quản lý, điều hành tổ chức đó. Ví dụ, Điều 47 Luật công ty của Israel năm 1999 quy định: “Những hành vi và những ý định của một cơ quan hoặc cá nhân quản lý cũng chính là hành vi, ý định của công ty”. Vì vậy, khi nhân viên quản lý của công ty thực hiện hành vi phạm tội thì đồng thời, ngay lập tức và một cách trực tiếp, hành vi đó được coi là hành vi phạm tội của công ty.

Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm có một quá trình phát triển lâu dài và tồn tại ở nhiều dạng khác nhau (nhưng giống nhau về bản chất) như thuyết alter ego (cái tôi thứ hai), thuyết organic (thuyết tổ chức)… Các dạng này đều chung nhau ba điều kiện cần và đủ để truy cứu TNHS đối với tổ chức là: 1/ Hành phạm tội do người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức đó thực hiện; 2/ Người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho tổ chức; 3/ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của tổ chức.

Lý thuyết đồng nhất hóa được áp dụng thống nhất trong luật hình sự Anh từ năm 1971, kể từ khi có quyết định của Lord Reid trong vụ án “Tesco Supermarkets Ltd. v. Nattrass” (Tesco Supermarkets Ltd. v. Nattrass)[36]. Trong phán quyết này, Lord Reid đã giải thích thuyết đồng nhất hoá trong việc phân biệt sự khác nhau giữa các cá nhân – những người có tinh thần và có tay để thực hiện định của mình và các pháp nhân không có những khả năng đó. Sau đó, Lord Reid giải thích là trong một số vụ án, có thể nói rằng cá nhân là sự hóa thân của công ty. Công ty nghe, nói qua cá nhân của công ty, trong khuôn khổ thẩm quyền của nó, và tinh thần của nó là tinh thần của công ty. Nếu là tinh thần tội lỗi thì lỗi này thuộc về công ty.

Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm đơn giản hóa nhận thức và thủ tục truy cứu TNHS đối với tổ chức. Để truy cứu TNHS tổ chức, người ta chỉ cần chứng minh: 1/ Hành vi phạm tội, lỗi của các cá nhân; 2/ Các cá nhân đó có chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức; 3/ Người quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho tổ chức và 4/ Cá nhân đó thực hiện hành vi vì lợi ích của tổ chức.

Có lẽ vấn đề quan trọng nhất của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm chính là xác định phạm vi người quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức để có thể đồng nhất hành vi cũng như trách nhiệm của những người đó với hành vi, trách nhiệm của chính tổ chức, công ty. Trong thế giới hiện đại, có rất nhiều loại hình tổ chức với hình thức hoạt động, kinh doanh rất khác nhau, việc có được một tiêu chuẩn cứng để xác định các chủ thể này là điều rất khó khăn mà phải chấp nhận sự suy xét, đánh giá chủ quan. Dự thảo luật của một số quốc gia đã cố gắng đưa ra các tiêu chuẩn mang tính nguyên tắc chung để xác định chủ thể này. Ví dụ, Điều 2.07 Bộ luật hình sự mẫu Hoa Kỳ quy định người làm đại lý cho công ty là đại lý quản trị cao cấp được đồng nhất với pháp nhân khi họ được giao “những nhiệm vụ mà với những nhiệm vụ đó, hành vi của họ chắc chắn được coi là hành thể hiện chính sách của công ty”. Thông thường, đây là những người có chức vụ, vị trí cao trong tổ chức, nhưng cao như thế nào thì vẫn không thể xác định được rõ ràng, cụ thể trong các trường hợp phạm tội khác nhau. Theo chúng tôi, đây chính là điểm hạn chế cơ bản nhất của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm này.

Ngoài ra, so sánh với thuyết trách nhiệm thay thế (được cho là phạm vi TNHS tổ chức quá rộng), thì thuyết đồng nhất hóa lại thu quá hẹp phạm vi TNHS của tổ chức, khi chỉ coi hành vi của các nhà quản lý, điều hành, chỉ huy (tức nhân viên cao cấp) của tổ chức mới bị truy cứu TNHS cho tổ chức đó. Trong khi có không ít trường hợp người tuy không phải là lãnh đạo, nhân viên cao cấp của tổ chức, công ty, thực hiện hành vi phạm tội đại diện cho tổ chức, công ty và hoàn toàn vì lợi ích của tổ chức, công ty, nhưng trách nhiệm của họ không được đồng nhất với trách nhiệm tổ chức, công ty vì người đó không có chức vụ được quy định. Điều này dẫn đến bỏ lọt tội phạm của tổ chức, công ty.

1.2.3. Học thuyết văn hóa (Systems/Culture Theory)

Đây là một trong những học thuyết xuất hiện muộn hơn trong giải quyết vấn đề TNHS đối với tổ chức. Khác với học thuyết trách nhiệm thay thế hay học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm khi đánh giá tội phạm thông qua người làm công hoặc người quản lý, chỉ huy, điều hành của tổ chức (tức chủ thể của hành vi phạm tội), học thuyết văn hóa xác định tội của tổ chức thông qua đánh giá vấn đề văn hóa của tổ chức và thực hiện các quy định đó trong thực tế.

Văn hóa pháp nhân được hiểu là “thái độ, chính sách, nội quy, trật tự quản lý hay tiến hành các hoạt động được pháp nhân duy trì”[37]. Văn hóa pháp nhân được thể hiện qua những yếu tố là: 1/ Nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức trao cho một người hay một số người nào đó quyền để thực hiện hành vi cấu thành tội phạm; hoặc 2/ Người của tổ chức hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội vì tin tưởng một các có căn cứ hoặc hợp lý (qua văn hóa tổ chức) rằng nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức sẽ cho phép hoặc chấp nhận những hành vi như vậy.

Theo học thuyết này, tổ chức được coi là đã ủy quyền hoặc cho phép nhân viên của mình thực hiện hành vi phạm tội nếu chứng minh được rằng văn hóa mà tổ chức đó đang duy trì đã tạo ra ở người thực hiện hành vi phạm tội tâm lý cho rằng tổ chức khuyến khích hoặc ít nhất là chấp nhận những hành vi như vậy. Văn hóa mà pháp nhân đang duy trì vô hình chung đã thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các nhân viên tổ chức, công ty thực hiện hành vi phạm tội hoặc ít nhất là không ngăn cản hình vi đó. Nói cách khác, văn hóa pháp nhân được xem như là “ý chí” của pháp nhân điều khiển hành vi phạm tội của nhân viên tổ chức.

Vì vậy, để truy cứu TNHS đối với tổ chức, cần phải có ba điều kiện: 1/ Có hành vi phạm tội của nhân viên tổ chức; 2/ Nhân viên đó thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, thẩm quyền được giao hoặc ủy quyền; 3/ Thông qua văn hóa tổ chức có chứng cứ cho thấy rằng nhân viên thực hiện hành vi phạm tội đó nhận thức được rằng tổ chức đã chỉ đạo, ủng hộ hay không phản đối hành vi mà họ thực hiện hoặc có lỗi là đã không tạo ra và duy trì một kiểu văn hóa đòi hỏi sự thuân thủ pháp luật trong phạm vi tổ chức. Ví dụ, Điều 12.3 Bộ luật hình sự Australia quy định rằng ý định, nhận thức hay sự khinh suất sẽ được quy kết cho pháp nhân nếu chúng được thể hiện một cách rõ ràng hoặc ngầm hiểu trong việc ủy quyền hoặc cho phép thực hiện hành vi phạm tội.

So với học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (chỉ thông qua hành vi của lãnh đạo, chỉ huy, người quản lý, nhân viên cấp cao), học thuyết văn hóa pháp nhân xác định phạm vi TNHS của tổ chức rộng hơn; bất kỳ hành vi phạm tội nào của nhân viên tổ chức cũng có thể được quy kết cho tổ chức. Học thuyết này mở rộng hơn phạm vi TNHS của tổ chức so với thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm.

Tuy nhiên, học thuyết này có hạn chế ở chỗ do “văn hóa” pháp nhân được hình thành và ghi nhận có thể thành văn hoặc bất thành văn, cho nên việc chứng minh rằng tổ chức đã khuyến khích, động viên hoặc ngầm đồng ý, chấp nhận cho  cá nhân thực hiện hành vi phạm tội để trên cơ sở đó có thể truy cứu TNHS tổ chức là một việc làm rất phức tạp và khó khăn trong thực tiễn.

Ngoài những học thuyết cơ bản nêu trên, trong luật hình sự thế giới còn tồn tại các học thuyết khác như học thuyết trách nhiệm tổ chức (organisational liability), học thuyết liên kết (aggregation theory), quy tắc trách nhiệm kép (double jeopardy rules)[38]… Nghiên cứu các học thuyết này cho thấy chúng cũng rất gần với các học thuyết đã phân tích trên về cách lý giải cũng như điều kiện áp dụng. Đặc biệt, quy tắc trách nhiệm kép (được sử dụng ở các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) ngoài việc lý giải TNHS của tổ chức, còn khẳng định rằng khi tổ chức thực hiện tội phạm thì không chỉ tổ chức đó phải chịu TNHS, mà cả thể nhân là người lãnh đạo, điều hành của tổ chức, người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội được quy kết cho tổ chức cũng phải chịu TNHS.

Thuyết trách nhiệm thay thế được áp dụng ở Anh, Hoa Kỳ… những năm cuối thế kỷ XIX và đấu thế kỷ XX và chủ yếu đối với các tội theo nguyên tắc buộc tội khách quan, khi mà quy mô tổ chức còn nhỏ với số lượng nhân viên, đại lý chưa đông, phạm vi hoạt động chưa rộng được gói gọn trong những vùng lãnh thổ xác định. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo, quản lý tổ chức, công ty dễ dàng giám sát, quản lý và điều hành toàn bộ đội ngũ người làm công của mình. Vì vậy, thuyết trách nhiệm thay thế được áp dụng là hợp lý và có thể lý giải được trên thực tế.

Đến thế kỷ XX, nhất là những năm giữa thế kỷ, cùng với thời kỳ công nghiệp hóa phát triển nhanh chóng, quy mô tổ chức, hoạt động của tổ chức ngày càng lớn, việc áp dụng thuyết trách nhiệm thay thế đã tỏ ra không phù hợp, thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm ra đời và được áp dụng rộng rãi ở các nước theo hệ thống common law như Hoa Kỳ, Canada, Anh và sau đó là các nước châu Âu lục địa và các nước châu Á. Cho đến nay, khi phân tích các quy định của pháp luật hình sự thế giới, có thể nói rằng, tuy phạm vi áp dụng có khác nhau, nhưng thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm được áp dụng ở tuyệt đại đa số các quốc gia thuộc các châu lục, các hệ thống pháp luật khác nhau.

Thuyết văn hóa chủ yếu được áp dụng tại Australia. Năm 1995 Quèc héi Australia ®· th«ng qua Bộ luật hình sự mới. Phần 12 dành riêng cho chế định TNHS của pháp nhân. Đó là thành quả độc đáo, tương thích với những nguyên tắc cơ bản của TNHS của pháp nhân, đặc biệt là trong bối cảnh đặc biệt phức tạp của các pháp nhân. Dự thảo được xây dựng trên cơ sở tham khảo các công trình khoa học mới đây của nhiều tác giả[39] và dựa trên khái niệm văn hoá pháp nhân (culture corporative) được coi là quan điểm tiến bộ trong luận giải cơ sở TNHS của pháp nhân[40]. Tại quốc gia này, các nhà hình sự học cho rằng phạm vi TNHS theo thuyết trách nhiệm thay thế là quá rộng; còn theo thuyết đồng nhất hóa là quá hẹp. Cả hai học thuyết này đều không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm của tổ chức. Vì vậy, thuyết văn hóa được hình thành và áp dụng như là một biện pháp trung hòa giữa hai học thuyết vốn được áp dụng rộng rãi nêu trên ở các nước thuộc các hệ thống khác nhau. Thuyết này không quá mở rộng và cũng không quá thu hẹp phạm vi TNHS của tổ chức, nhưng cũng lý giải hợp lý cơ sở TNHS của tổ chức[41].

Theo thuyết văn hóa pháp nhân thì ý định phạm tội của pháp nhân (intention corporative) không chỉ giới hạn bởi ý định phạm tội có tính chất cá nhân của các nhân viên, người lãnh đạo hoặc của các giám đốc pháp nhân mà nó còn gắn với các chính sách thể hiện rõ ràng hoặc ngầm định hướng cho các hoạt động của pháp nhân. Phần 12 Bộ luật hình sự mới của Australia quy kết cho pháp nhân tất cả các hành vi phạm tội của người làm công hoặc nhân viên của nó, nếu pháp nhân cho phép họ thực hiện các hành vi đó. Cũng như luật hình sự của Hoa Kỳ hoặc Canada, Bộ luật hình sự mới này đã tiếp thu các thuyết về trách nhiệm đối với hành vi của người khác và thuyết đồng nhất hoá. Tuy nhiên, Đạo luật này của Australia đã thực hiện được một bước tiến quan trọng so với luật hình sự các nước đang nghiên cứu trong việc định nghĩa khái niệm lỗi pháp nhân. Đối với vấn đề này, khái niệm văn hoá pháp nhân đã tác động trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm là một khái niệm rất hấp dẫn, rất mới. Nó rất có ý nghĩa nhất là đối với việc xác định TNHS liên quan tới thực thể kinh tế rất lớn (các công ty hoặc tập đoàn kinh tế lớn), tức là cần xác định được cái gì là môi trường, các sức ép về tổ chức, tâm tính bao quanh pháp nhân có thể thúc đẩy việc thực hiện tội phạm. Thuyết văn hoá pháp nhân cho phép Toà án quy kết TNHS đối với pháp nhân, mặc dù không xác định được lỗi của cá nhân cụ thể có thể đồng nhất hoá với lỗi của pháp nhân. Như vậy, quan niệm về văn hoá pháp nhân là câu trả lời độc đáo đối với những chỉ trích của nhiều luật gia các nước theo truyền thống common law về tính chặt chẽ của thuyết đồng nhất hoá mà các Toà án nước Anh đang áp dụng.

TNHS đối với tổ chức được công nhận và áp dụng muộn hơn ở các nước thuộc hệ thống Châu Âu lục địa và Châu Á, những quốc gia vốn rất coi trọng tính đầy đủ, chặt chẽ của luật nội dung. Pháp luật hình sự của các quốc gia đã tiếp nhận những yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố hạn chế của các học thuyết trên để xác định được phạm vi hợp lý của việc truy cứu TNHS đối với tổ chức đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm không chỉ từ phía các thể nhân mà cả từ phía các tổ chức. Tinh thần chung của các quy định TNHS của tổ chức ở các nước châu Âu lục địa và châu Á là:

1. Pháp nhân phải chịu TNHS về tội phạm, nếu:

a/ Tội phạm đó được thực hiện nhân danh, thay mặt hoặc vì lợi ích của pháp nhân; hoặc

b/ Tội phạm đó được thực hiện bởi bất kỳ thể nhân nào với tư cách cá nhân hoặc một phần pháp nhân thực hiện chức năng quản lý hoặc giám sát của pháp nhân trên cơ sở:

2. Đại diện của pháp nhân;

Có thẩm quyền thay mặt pháp nhân ra các quyết định; hoặc

Có thẩm quyền kiểm soát pháp nhân.

Pháp nhân cũng phải chịu TNHS về một tội phạm do sự thiếu sự giám sát, kiểm tra đối với thể nhân thực hiện tội phạm vì lợi ích của pháp nhân.

TNHS đối với pháp nhân không loại trừ việc truy cứu TNHS đối với thể nhân với vai trò là người chuẩn bị phạm tội hoặc tham gia thực hiện tội phạm[42].

Như vậy, các học thuyết TNHS pháp nhân lý giải có khác nhau về cơ sở TNHS của tổ chức và từ đó xác định phạm vi, điều kiện TNHS cũng có khác nhau. Việc lựa chọn học thuyết này hay học thuyết khác trong lý giải về cơ sở TNHS đối với tổ chức có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định phạm vi TNHS đối với tổ chức (loại tội phạm phải chịu TNHS, loại tổ chức phải chịu TNHS, loại người được ủy quyền…) trong hoạt động lập pháp của các quốc gia.

1.3. Các điều kiện trách nhiệm hình sự của tổ chức

Nghiên cứu các học thuyết nêu trên cho thấy, dù có cách lý giải khác nhau về TNHS của tổ chức nhưng các học thuyết đó đưa ra những điều kiện tương đối giống nhau về hành vi phạm tội, về chủ thể của tội phạm, về quy định của pháp luật… để truy cứu TNHS đối với tổ chức. Cụ thể là:

Tổ chức bao giờ cũng phải chịu TNHS thông qua hành vi phạm tội của thể nhân. Thể nhân đó có thể là người làm công, đại lý hoặc bất kỳ nhân viên nào của tổ chức; có thể là người lãnh đạo, quản lý, điều hành (nhân viên cao cấp) của tổ chức. Những người này đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự của quốc gia. Không có hành vi của thể nhân thì không có TNHS của pháp nhân. Ví dụ, để thiết lập sự hiện diện của ý định trong các hoạt động của tổ chức, luật hình sự Mỹ yêu cầu xem xét các hành động của nhân viên và truy cứu

TNHS tổ chức, nếu nhân viên đã hành động, trước hết, thuộc thẩm quyền của mình và, thứ hai, với mục đích mang lại lợi ích cho tổ chức[43].

Để truy cứu TNHS tổ chức, giữa tổ chức và thể nhân bao giờ cũng tồn tại mối quan hệ ràng buộc nhất định. Tổ chức phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của thể nhân khi người đó thực hiện hành vi nhân danh tổ chức, thay mặt hoặc đại diện cho tổ chức hoặc chịu sự giám sát và vì lợi ích của tổ chức. Đồng thời thể nhân đó thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, thẩm quyền và nhiệm vụ được tổ chức giao. Trong thuyết trách nhiệm thay thế – đó là người làm công, đại lý và ràng buộc với nhau bằng hợp đồng; trong thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm đó là người chỉ huy, quản lý, lãnh đạo, điều hành (nhân viên cao cấp) quyết định chính sách của tổ chức; trong thuyết văn hóa – đó là bất kỳ nhân viên nào của tổ chức và ràng buộc với nhau bằng văn hóa pháp nhân.

Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thông thường không loại trừ TNHS của cá nhân đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm cụ thể. Nói cách khác, đồng thời với việc pháp nhân bị truy cứu TNHS, cá nhân đã có hành vi mà vì nó tổ chức phải chịu TNHS cũng có thể bị truy cứu TNHS. Điều kiện này đặc trưng cho việc truy cứu TNHS theo thuyết trách nhiệm thay thế và thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm mà không nhất thiết đối với thuyết văn hóa pháp nhân. Đối với thuyết văn hóa pháp nhân, có thể truy cứu TNHS đối với tổ chức mà không nhất thiết xác định TNHS của thể nhân là thành viên tổ chức đó.

Dù cách quy định có khác nhau nhưng tội phạm mà pháp nhân phạm phải và phải chịu TNHS phải được quy định trong pháp luật hình sự. Có quốc gia không hạn chế phạm vi tội phạm mà tổ chức phải chịu TNHS (chỉ trừ những tội phạm mà về bản chất tổ chức không thể thực hiện; các tội phạm mà chế tài quy định không thể áp dụng đối với tổ chức). Ở một số quốc gia khác, các tội phạm mà tổ chức phải chịu TNHS được quy định cụ thể trong pháp luật hình sự.

1.4. Phạm vi trách nhiệm hình sự của tổ chức

1.4.1. Phạm vi chủ thể

Một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu phạm vi TNHS của tổ chức liên quan đến chủ thể. Đây là vấn đề mà mỗi nước đã chấp nhận chế định TNHS của pháp nhân đưa ra những cách giải quyết khác nhau. Trong pháp luật các nước, chủ thể được sử dụng bằng các tên gọi khác nhau. Các tên gọi được sử dụng nhiều là tổ chức (organization), pháp nhân (legal person).

Tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì mục tiêu chung. Các tổ chức trong xã hội hiện đại rất phong phú, được hình thành trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo, tổ chức kinh tế, tổ chức vũ trang… Từ góc độ pháp lý, các tổ chức có thể được liên kết chặt chẽ, hoạt động lâu dài hoặc liên kết đơn giản, linh hoạt; có thể là tổ chức công hoặc tổ chức tư; có hoặc không có tư cách pháp nhân.

Pháp luật một số nước coi bất kỳ tổ chức nào cũng có thể là chủ thể của tội phạm, không phân biệt hình thức tổ chức (liên kết, nội quy, trách nhiệm thành viên…), tính chất (công hay tư) và địa vị pháp lý (có tư cách pháp nhân hay không) của tổ chức đó.

Một số nước sử dụng tên gọi khác như đơn vị (corporate entities, unit). Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của pháp luật các nước đó (Trung Quốc), chúng tôi thấy thực chất đó cũng chỉ là một dạng tổ chức.

Khái niệm pháp nhân được sử dụng nhìn chung là thống nhất trong pháp luật dân sự, thương mại các nước trên thế giới. Theo quan niệm chung, pháp nhân là tổ chức được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó và nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Như vậy, so với tổ chức, khái niệm pháp nhân hẹp hơn. Tổ chức chỉ trở thành pháp nhân khi có đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định.

Pháp nhân có thể là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện…

Các kết quả nghiên cứu cho thấy chủ thể của TNHS của pháp nhân được pháp luật hình sự của các nước quy định tương đối rộng, bao gồm các tổ chức theo luật tư và cả các tổ chức theo luật công[44].

Các pháp nhân theo luật tư là những pháp nhân được thành lập theo quy định của luật tư (chủ yếu là luật dân sự hoặc luật thương mại) nhằm mục đích kinh doanh sinh lợi hoặc phục vụ lợi ích khác không nhằm thực thi quyền lực công, như: các loại hội (hội dân – luật, hội buôn, hội thương mại, hội tín dụng, hội cổ phần, hội hùn phần, hội điền – địa, hội bảo hiểm…), các nhóm lợi ích hoặc các tập đoàn kinh tế, các hội đoàn, tổng hội, nghiệp đoàn…

Trước hết chúng ta cần đề cập tới pháp nhân có mục đích sinh lợi, tức là đối tượng hoạt động của các pháp nhân này là tìm kiếm lợi nhuận. Về nguyên tắc, tất cả các pháp nhân theo luật tư có mục đích sinh lợi đều có đủ tư cách chủ thể của tội phạm phải chịu TNHS, như: các pháp nhân dân sự, các pháp nhân thương mại bao gồm các công ty thương mại như công ty vô danh, công ty hợp danh, công ty cổ phần và cả các pháp nhân có điều lệ hợp tác hoặc nông nghiệp, các pháp nhân một thành viên cũng như các nhóm có lợi ích kinh tế…

Đối với các pháp nhân không có mục đích sinh lợi, những pháp nhân này khi hoạt động không vì mục đích thu lợi nhuận. TNHS cũng đặt ra đối với các pháp nhân loại này. Đó là các hiệp hội đã đăng ký hợp lệ, các giáo đoàn, các công đoàn, các đảng phái và các nhóm chính trị…

Các pháp nhân theo luật công là những pháp nhân được nhà nước thành lập nhằm thực hiện các hoạt động phục vụ lợi ích chung cho xã hội. Hoạt động của các tổ chức này thuộc sự chi phối của luật công (chủ yếu là luật hành chính).

Nhìn chung pháp luật các nước đều quy định các tổ chức công đều có tư cách chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS không phân biệt các lĩnh vực hoạt động như: các cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các công ty, nhà máy, xí nghiệp, các đoàn, hội, hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, trường học, bệnh viện, tổ chức văn hoá…

Theo Điều 30 Bộ luật hình sự Trung Quốc, chủ thể TNHS tổ chức bao gồm “công ty, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp của đảng, cơ quan, đoàn thể thực hiện các hành vi nguy hại cho xã hội, luật pháp qui định là tổ chức phạm tội, phải chịu TNHS”. Theo điều luật này thì pháp luật hình sự Trung Quốc chỉ coi công ty, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp của đảng, cơ quan, đoàn thể là chủ thể TNHS mà không đề cập đến nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội… Vì vậy, có thể coi cơ quan nhà nước cũng là chủ thể phải chịu TNHS. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử ở Trung Quốc chưa có cơ quan nhà nước nào bị truy cứu TNHS. Do đó, các nhà hình sự học Trung Quốc đang có kiến nghị loại bỏ cơ quan nhà nước ra khỏi chủ thể TNHS của tổ chức[45].

Tuy nhiên, pháp luật của các nước đang nghiên cứu cũng có những quy định ngoại lệ. Theo quy định của pháp luật hình sự thì các chủ thể sau không thể chịu TNHS: 1/ Nhà nước ; 2/ Chính quyền các lãnh thổ[46].

Ngoài hai ngoại lệ trên, các loại pháp nhân theo luật công khác đều phải chịu TNHS nếu phạm tội, không phân biệt các lĩnh vực hoạt động như: các cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các xí nghiệp, các nhà máy được quốc hữu hoá, các đoàn, hội, hiệp hội nghề nghiệp, các đơn vị sự nghiệp…

Về vấn đề tư cách pháp nhân của các chủ thể chịu TNHS, nhìn chung luật hình sự các nước không quy định chủ thể chịu TNHS cần phải có tư cách pháp nhân. Theo quy định của pháp luật hình sự các nước này, ngoài các pháp nhân theo luật tư và luật công có tư cách pháp nhân, TNHS còn được áp dụng đối với cả các hội, hiệp hội, các tổ chức khác mà về phương diện pháp luật nó không phải là các pháp nhân theo pháp luật dân sự, thương mại hoặc hành chính. Ví dụ, đạo luật về Kiến trúc sư của Singapore quy định tại Điều 35 như sau: khi một tập đoàn, công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc hiệp hội không có tư cách pháp nhân phạm tội theo quy định của luật này và tội phạm đó được chứng minh là được thực hiện với thẩm quyền, sự cho phép hoặc bao che của giám đốc, người quản lý hoặc chức danh tương đương của tập đoàn, công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc hiệp hội đó hoặc bất kỳ người nào có mục đích hành động với tư cách đó, thì người đó cũng như tập đoàn, công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc hiệp hội không có tư cách pháp nhân đó bị coi là phạm tội đó và phải chịu TNHS theo quy định. Quy định này cho thấy phạm vi tổ chức bị truy cứu TNHS theo quy định của luật hình sự Singapore bao gồm cả pháp nhân cả hiệp hội không có tư cách pháp nhân[47].

Như vậy, chủ thể của TNHS của tổ chức theo quy định trên rất rộng, bao gồm cả tổng thể những cá nhân liên kết với nhau, mặc dù những nhóm, hội hoặc hiệp hội đó trong thực tế không có tư cách pháp nhân, tức là nó không có khả năng hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý nhất định. Những nhóm, hội, hiệp hội này vẫn có thể coi là chủ thể của TNHS của pháp nhân nếu phạm tội.

Tuy nhiên, cũng có những nước lại có quy định khác về tư cách pháp nhân của chủ thể. Ví dụ, Điều 121-2 Bộ luật hình sự của Pháp lại đòi hỏi chủ thể của TNHS cần phải có tư cách pháp nhân. Việc đòi hỏi tư cách pháp nhân đối với chủ thể chịu TNHS của pháp nhân được bào chữa bởi những lý do về tính hiệu quả và sự an toàn. Một mặt người ta không thể trừng phạt một người mà họ không có căn cước, không có sự tồn tại về mặt pháp lý, không thể tự mình tham gia các quan hệ pháp lý… Mặt khác, khó có thể nhận thức được lợi ích của việc trừng trị như thế: người bị trừng trị không có quyền và cũng không có tiền để chấp hành hình phạt. Cuối cùng do không có tiêu chuẩn rõ ràng và chính xác để thiết lập tư cách pháp nhân nên phạm vi áp dụng TNHS của pháp nhân rất không chắc chắn, chính sự không chắc chắn này là nguồn gốc của sự không an toàn về mặt pháp lý.

Tóm lại, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử của các nước cho thấy quan niệm về chủ thể chịu TNHS của pháp nhân rất rộng. Pháp nhân, tổ chức với tư cách là chủ thể của TNHS có thể là những thực thể tổ chức hoặc thực thể cá thể có tư cách pháp nhân (corporations), nhưng cũng có thể là các nhóm, hội, hiệp hội… không có tư cách pháp nhân. Chủ thể chịu TNHS của pháp nhân không chỉ là những pháp nhân, tổ chức theo luật tư mà còn bao gồm cả những pháp nhân, tổ chức theo luật công phạm tội (các pháp nhân theo luật công hoặc luật tư – như cách phân biệt theo hệ thống civil law). Đồng thời, pháp luật hình sự của các nước đều không coi Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước), các cơ quan đại diện chính quyền địa phương là chủ thể phải chịu TNHS.

1.4.2. Phạm vi các tội phạm tổ chức phải chịu trách nhiệm hình sự

Phạm vi các tội phạm mà tổ chức phải chịu TNHS được quy định tương đối khác nhau ở các nước. Nhìn chung, có hai cách quy định phạm vi chủ thể chịu TNHS của tổ chức.

Đa số luật hình sự các nước theo hệ thống common law (như Hoa Kỳ, Canada, Australia…) và một số nước thuộc hệ thống legal law (như Bỉ, Hà Lan, Thụy Sỹ…) quy định TNHS của pháp nhân được áp dụng có tính chất chung cho mọi tội phạm. Như vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp các nước này đã chấp nhận một hệ thống điều khoản chung quy định về TNHS của pháp nhân. Cách lựa chọn này, trong thực tế gặp những khó khăn nhất định nên buộc toà án khi áp dụng pháp luật phải đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để xác định những tội phạm nào pháp nhân có thể thực hiện, những tội phạm nào pháp nhân không thể thực hiện hoặc không thể truy cứu TNHS.

Trong thực tiễn xét xử của toà án các nước được nghiên cứu thì TNHS của tổ chức được áp dụng cho mọi loại tội phạm trong common law hoặc luật thành văn trong đó bao gồm cả các tội được thực hiện bằng ý định phạm tội, vô ý cẩu thả hay khinh xuất.

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp ngoại lệ sau mà TNHS của tổ chức không đặt ra trong luật hình sự nước Anh, đó là: 1/ những tội phạm nghiêm trọng bị trừng phạt bởi hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình và không phải là hình phạt tiền; 2/ một số loại tội phạm khác vì bản chất của nó, nên pháp nhân không thể thực hiện được như: tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (bigamy offence); tội cưỡng dâm (rape offence) được quy định trong luật quy định các tội phạm về tình dục [secxual offences (amendment) act 1976]; tội phạm khai gian trước toà [perjury offence] theo mục 1(1) của luật về tội khai gian trước toà năm 1911 (perjury act)…

Luật hình sự của một số nước khác quy định tổ chức chỉ phải chịu TNHS trong những trường hợp pháp luật hình sự có quy định cụ thể.

Bộ luật hình sự năm 1994 của Pháp liệt kê cụ thể các tội phạm mà tổ chức có thể thực hiện trong phần tội phạm của Bộ luật hình sự hoặc trong các nghị định và các đạo luật riêng biệt. Điều 112-2 Bộ luật hình sự Pháp quy định các tổ chức chỉ phải chịu TNHS trong những trường hợp luật hoặc nghị định quy định. Quy định này đòi hỏi khi quy kết TNHS đối với một tổ chức nào đó toà án pháp cần phải nghiên cứu các đạo luật hoặc nghị định chuyên biệt có quy định TNHS của tổ chức đối với tội phạm đó hay không[48].

Trong Bộ luật hình sự Trung Quốc, ngoài những nội dung qui định tại phần chung, tại phần riêng có 124 nội dung qui định về tổ chức phạm tội, liên quan tới 125 tội danh. Trong đó, có 7 nội dung qui định liên quan đến các tội gây nguy hại cho an toàn công cộng, 78 nội dung qui định liên quan đến các tội phá hoại trật tự nền kinh tế thị trường XHCN, 1 nội dung liên quan đến các tội xâm hại quyền dân chủ, quyền nhân thân, 31 nội dung liên quan đến các tội xâm hại trật tự quản lí xã hội, 3 nội dung liên quan đến qui định về các tội xâm hại an ninh quốc phòng và 5 nội dung liên quan đến qui định về các tội tham ô, hối lộ. Sau này, cơ quan lập pháp căn cứ vào sự thay đổi và phát triển của thực tế, đã tiến hành 7 lần bổ sung sửa đổi và đã tăng thêm nhiều qui định về tổ chức phạm tội[49].

Pháp luật hình sự các nước Asean cũng quy định từng trường hợp cụ thể các tội phạm mà tổ chức phải chịu TNHS. Do các nước này tiếp nhận quan điểm về TNHS của tổ chức tương đối muộn, nên nó (TNHS của tổ chức) chủ yếu được quy định ở các đạo luật chuyên ngành. Tại các đạo luật này có quy định cụ thể tội phạm nào tổ chức phải chịu TNHS và chế tài được áp dụng đối với tổ chức[50].

1.5. Các hình thức trách nhiệm hình sự của tổ chức

Nghiên cứu cho thấy, các hình thức TNHS áp dụng đối với tổ chức được quy định khác nhau ở các nước thuộc các hệ thống luật khác nhau.

Chế tài hình sự áp dụng đối với tổ chức phạm tội trong luật hình sự các nước theo truyền thống common law duy nhất là hình phạt tiền (fine). Tuy nhiên mức phạt tiền tối đa đối với từng loại tội phạm được quy định trong luật hình sự của mỗi nước không giống nhau. Ví dụ:

Hoa Kỳ, các mức phạt tiền được áp dụng cho tổ chức bị buộc tội là: 1) đối với tội nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm trọng dẫn đến chết người phạt không quá 500.000 USD; 2) đối với bất kỳ một tội ít nghiêm trọng nào khác phạt không quá 100.000 USD; c) đối với tội vi cảnh phạt không quá 10000 USD.

Theo Bộ luật hình sự đã được sửa đổi của Canada năm 2003, đối với các tội được xét xử theo thủ tục rút ngắn (tức là các tội ít nghiêm trọng mà mức hình phạt tù cao nhất áp dụng với cá nhân phạm tội là 6 tháng và/hoặc mức phạt tiền cao nhất là 2000 USD), thì mức phạt tiền cao nhất đối với loại tội phạm này đến 100.000 USD. Đối với các tội phạm nghiêm trọng, Bộ luật hình sự trước và sau khi sửa đổi không quy định mức phạt tiền mà do toà án quyết định đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Hình phạt áp dụng đối với tổ chức phạm tội nghiêm khắc hơn theo luật mới. Nó cho phép tòa án trừng trị tổ chức phạm tội bằng hình phạt tiền không giới hạn và/ hoặc thông báo công khai bản án.

Để quyết định hình phạt đối với tổ chức phạm tội do khinh xuất. Trong khi luật hình sự các nước khác trong truyền thống common law không quy định những căn cứ quyết định hình phạt tiền với pháp nhân phạm tội thì Bộ luật hình sự mới sửa đổi của Canada đòi hỏi toà án khi áp dụng mức hình phạt tiền phải cân nhắc các dấu hiệu như: những lợi ích mà pháp nhân, tổ chức đã nhận được từ việc thực hiện tội phạm; mức độ phức tạp của quá trình chuẩn bị, sửa soạn gắn với việc phạm tội và cũng như sự phức tạp của chính bản thân tội phạm; việc mà pháp nhân, tổ chức đã mưu tính che giấu tài sản hiện có hoặc chuyển dịch nó nhằm tránh né việc trả tiền phạt hoặc bồi thường; hậu quả mà hình phạt gây ra đối với khả năng tồn tại được về kinh tế đối với pháp nhân, tổ chức và công ăn việc làm của nhân viên pháp nhân, tổ chức đó; chi phí của các cơ quan công quyền trong khuôn khổ cuộc điều tra, truy tố, xét xử liên quan tới tội phạm của pháp nhân, tổ chức; tất cả những khoản sửa chữa, bồi thường thiệt hại mà pháp nhân, tổ chức phải chịu hoặc phải thực hiện vì lợi ích của người bị hại… (Điều 718.21 Bộ luật hình sự Canada).

Theo luật chống hối lộ của Anh (được ban hành tháng 4-2010), mức phạt tiền đối với tổ chức phạm tội đưa hối lộ cho quan chức nước ngoài là không giới hạn[51]

Nghiên cứu các hình phạt mà luật hình sự các nước theo hệ thống legal law quy định áp dụng đối với pháp nhân, tổ chức phạm tội, người ta có thể đại thể phân ra thành 4 nhóm tuỳ thuộc vào đối tượng áp dụng: 1/ các hình phạt gây hại cho thanh danh của tổ chức phạm tội; 2/ các hình phạt về tài sản; 3/ các hình phạt hạn chế các hoạt động của tổ chức phạm tội; 4/ các hình phạt nhằm vào sự tồn tại của pháp nhân, tổ chức phạm tội.

Trong khi Bộ luật hình sự của Thụy Sỹ chỉ quy định hình phạt tiền là hình phạt duy nhất được áp dụng đối với pháp nhân thì Bộ luật hình sự của Pháp, Bỉ và Hà Lan lại quy định cả một hệ thống hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội, cụ thể như sau:

Điều 7bis mới của Bộ luật hình sự vương quốc Bỉ quy định các hình phạt sau: phạt tiền; tịch thu tài sản của pháp nhân; giải thể pháp nhân; cấm tiến hành hoạt động nhất định; đóng cửa pháp nhân; niêm yết quyết định đã được tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn.

Bộ luật hình sự Hà Lan quy định những hình phạt sau có thể áp dụng đối với pháp nhân phạm tội: phạt tiền; giải thể pháp nhân; tịch biên; niêm yết quyết định đã được tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn; tịch thu tài sản; buộc bồi thường thiệt hại; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ các hoạt động của xí nghiệp; ra lệnh chấm dứt hoặc phải thực hiện một hành động hoặc không hành động; chịu sự giám sát tư pháp.

Điều 131-37 Bộ luật hình sự của Pháp quy định đối với trọng tội và khinh tội, pháp nhân phải chịu những hình phạt là hình phạt tiền thông thường và, trong những trường hợp luật định, những hình phạt được quy định trong Điều 131-39 là: giải thể; cấm tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội trong thời hạn tối đa đến 5 năm hoặc vĩnh viễn; chịu sự giám sát tư pháp trong thời hạn tối đa là 5 năm; đóng cửa vĩnh viễn các cơ sở hoặc một trong nhiều cơ sở của pháp nhân mà pháp nhân đã sử dụng để tiến hành các hoạt động phạm tội trong thời hạn tối đa là 5 năm hoặc vĩnh viễn; cấm vĩnh viễn hoặc trong thời hạn tối đa là 5 năm việc huy động vốn; cấm phát hành séc hoặc hoặc sử dụng thẻ thanh toán trong thời hạn tối đa là 5 năm; tịch thu vật đã được sử dụng hoặc dành cho việc thực hiện hành vi tội phạm hoặc vật do phạm tội mà có; niêm yết quyết định đã được tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn.

Đối với các pháp nhân phạm tội vi cảnh thì có thể áp dụng các hình phạt được quy định tại Điều 131-40 Bộ luật hình sự là hình phạt tiền và một số hình phạt tước hoặc hạn chế các quyền của pháp nhân được quy định trong Điều 131-42.

Cần lưu ý là Bộ luật hình sự Pháp quy định các hình phạt giải thể và giám sát tư pháp không được áp dụng đối với các pháp nhân theo luật công cũng như đối với các đảng phái hoặc các nhóm chính trị, các tổ chức công đoàn chuyên nghiệp phạm tội.

Luật hình sự các nước châu Á cũng quy định các hình phạt khác nhau đối với tổ chức phạm tội. Nhìn chung, ở các nước châu Á áp dụng “quy tắc trách nhiệm kép”, có nghĩa là khi một tội phạm được thực hiện thì ngoài tổ chức bị xử phạt, người đứng đầu tổ chức, cơ quan cũng đồng thời bị xử phạt. Thông thường, nếu là phạt tiền thì mức phạt đối với tổ chức cao hơn đối với thể nhân.

Theo luật hình sự các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaixia tổ chức phạm tội chỉ bị phạt tiền là hình phạt duy nhất.

Luật hình sự Thái Lan, Philippins, Indonesia quy định đối với tổ chức phạm tội, ngoài hình phạt chính là phạt tiền, tổ chức còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung hoặc biện pháp cưỡng chế tư pháp khác.

Theo luật hình sự Thái Lan, các hình phạt bổ sung là ngừng hoạt động của doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp hoặc chấm dứt của các cổ điều hoặc quan hệ đối tác.

Ngoài hình phạt tiền và hình phạt tù, luật hình sự Philippines còn quy định các hình phạt bổ sung đối với trường hợp pháp nhân phạm tội là: rút giấy phép hoạt động đối với công ty nước ngoài phạm tội, trục xuất và cấm nhập cảnh vào Philippines đối với người nước ngoài phạm tội, đình chỉ chức vụ và cấm đảm nhiệm chức vụ có liên quan sau khi mãn hạn chấp hành hình phạt đối với là quan chức hoặc nhân viên công quyền. Bên cạnh đó, các biện pháp tư pháp khác cũng được quy định như tịch thu tang vật và phương tiện phạm tội, buộc tái xuất chất thải nguy hại đã được nhập vào Philippines…

Theo luật hình sự Indonesia, ngoài hình phạt chÝnh lµ ph¹t tiÒn, tæ chøc phạm tội còn bị áp dụng các biện pháp sau đây: Tịch thu lợi nhuận phát sinh từ hành vi vi phạm, buộc đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh, bồi thường các thiệt hại gây ra bởi hành vi phạm tội, buộc thực hiện nghĩa vụ luật định, phá hủy các trang thiết bị vi phạm, ®ặt hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát hành chính trong thời hạn 3 năm; hoÆc ngoµi ph¹t tiÒn lµ h×nh ph¹t chÝnh, doanh nghiệp có hành vi vi phạm còn bị buộc: tịch thu hàng hóa, công bố phán quyết của thẩm phán, thanh toán tiền bồi thường, chấm dứt hành vi gây hại cho người tiêu dùng, thu hồi sản phẩm đang lưu thông, rút giấy phép kinh doanh[52].

Tóm lại, ở tất cả các nước có quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhấn, hình phạt chính được quy định là phạt tiền. Ngoài ra, một số nước còn quy định các loại hình phạt khác với tư cách là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung như tịch thu tài sản, hạn chế hoặc đình chỉ hoạt động, giám sát tư pháp, công bố quyết định của tòa án… Đồng thời, tòa án có thể quyết định các biện pháp tư pháp như buộc khắc phục hậu quả, bồi thường, chấm dứt hành vi gây thiệt hại…


[1] [2] Xem: Trịnh Quốc Toản, TNHS của pháp nhân trong luật hình sự nước Anh, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, kinh tế – luật, số 3. 2002; TNHS của pháp nhân trong luật hình sự vương quốc Bỉ, Tạp chí Nhà nước & pháp luật, số 3/2003; TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Hà Lan, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 2(50)/2003; Phạm vi và điều kiện áp dụng TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Anh, tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, kinh tế – luật, số 1. 2003; TNHS của pháp nhân trong luật hình sự Pháp, Tạp chí Nhà nước & pháp luật, số 10/2004.

[2] [3] Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad. de ch. ruenoux, Paris, librairie firmin didot 1841, t.2, 311 et s.

[3] [4] Xem Leffort, Precis de droit criminel, Paris, Sirey, 1877, 218,219.

[4] [5] Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, tài liệu đã dẫn, p. 312.

[5][6] Xem M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad. p. 312.

[6][7] Xem A. Braas, Précis de droit criminel, Bruxlles- liège, Bruylant, 1946, no 122.

[7] [8] Xem Haus, Principes généraux de droit pénal belge, Gand, Librairie générale ad. hoste, no 266.

[8][9] Xem A. Braas, Précis de droit criminel. Tài liệu đã dẫn, số 122; J. Constant, traité élémentaire de droit pénal, liège, imp. nationales, 1965, t.1, 155.

[9] [10] Xem R. Garraud, Traité de droit criminel, Paris, Sirey, 1926, 69.

[10] [11] Xem Donnedieu De Vabres, Traite de droit criminel et de législation pénale comparée. Tài liệu đã dẫn, tr. 149.

[11] [12] Xem: Kensuke itoh, Những thành tựu và hạn chế về mặt lý luận trong việc pháp luật hoá TNHS của tổ chức tại Nhật Bản trong sách luật Nhật Bản, 1993-1997, Nxb. Thanh niên, 2000, tr. 166. Maistre, Les personnnes morales et le probleme de leur reponsabilité pénale, Paris, A. Rousseaus, 1889, 275 et s.

[12] [13] Xem S. Glaser, L’etat en personns morales et le probleme de leur reponsabilité pénale, r.d.p.c., 1948-1949, 444.

[13] [14] Xem Donnedieu De Vabres, Traite de droit criminel et de législation pénale comparée, Paris, Sirey, 1947,149.

[14] [15] Xem A. Huss, Sanctions pénales et les personns morales, r.d.p.c., 1975-1976, 674.

[15] [16] Xem Thomas Hobbes, Léviathan, Trad. par f. tricaud, Paris, Sirey, 1971, 247

[16] [Actes du congrès (1920).

[17] [18] Xem M. Hauriou aux sources du droit: Le pouvoir, L’ordre et la liberté, Cahiers de la nouvelle journée, (23) Paris, Bloud & gay, 1933, 126-127.

[18] [18] Xem M. Delmas-marty, Droit pénal d’affaires, Paris, 1993, 109; Y. Mayaud, La volonté à la lumière du nouveau code pénal, in mélanges en l’honeur du professeur j. languier, grenoble, pug, 1993, p. 214.

[19] [20] Xem Arthur Taylor Von Mehren & James Russell Gordley, The civil law system – an introduction to the comparative study of law, second edition, little, Brown & company. Boston & Toronto, 1977.

[20] [21] Đào Trí Úc, Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý TNHS, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9/1999. tr. 75.

[21] [22] Xem: H.L. Bolton (eningeering) Company ltd. v. T.J. Graham &son ltd (1957) i.q.b.159, 172.

[22] [23] Các học thuyết về cơ sở TNHS của pháp nhân sẽ được phân tích cụ thể hơn ở mục 1.2 của đề tài.

[23] [24] Xem Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không? Tài liệu đã dẫn, tr.16.

[24] [25] The pharmaceutical society. v. The London and provincial supply association ltd (1880) 5 app. cas. 857, 869,

[25] Xem V. Simonart, la personalité morale en droit comparé, Bruxelles, Bruylant, 1995, 256.

[26] Xem: Kensuke Itoh, Những thành tựu và hạn chế về mặt lý luận trong việc pháp luật hoá TNHS của tổ chức tại Nhật Bản, Tài liệu đã dẫn, tr. 166.

[27] [28] Xem: Kensuke Itoh, Những thành tựu và hạn chế về mặt lý luận trong việc pháp luật hoá TNHS của tổ chức tại Nhật Bản, Tài liệu đã dẫn, tr. 166.

[28] [29] Nội luật hóa TNHS của pháp nhân là đối tượng khuyến cáo trong trong các văn bản như Công ước quốc tế về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố của liên hợp quốc; Công ước về đấu tranh chống tham nhũng năm 1997; Công ước về bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự đã được mở ra cho các nước thành viên tham gia ký từ ngày 4 tháng 11 năm 1998; Công ước liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng; Khuyến cáo số 12 và 18 năm 1982 và 1988 của Ủy ban các bộ trưởng hội đồng châu Âu về tình trạng tội phạm về kinh tế, thương mại; Công ước cộng đồng châu Âu về chống tham nhũng bằng luật hình sự…

[29] [30] John C. Coffee, Jr., Corporate Criminal Liability: An Introduction and Comparative Survey, International colloquium on “Criminal Responsibility of Legal and Collective Entities” from May 4-6, 1998 in Berlin, tr. 10-

[30] [31] Xem: Hoàng Thị Tuệ Phương, TNHS pháp nhân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học luật HCM, 2006, tr.9; Wells Celia, Corporations and Criminal responsibility, The second edition, Oxford University Press…

[31] [32] Wells C, ‘The Millennium Bug and Corporate Criminal Liability’, 1999 (2) The Journal of Information, Law and Technology (JILT), tr. 6-8. <http://elj.warwick.ac.uk/jilt/99-2/wells.html&gt;

[32] [33] Egan v. u.s (1943), 137 f2d 369 (6th cir. c.a); u.s v. basic construction (1983), 711 f. 2d 570 (5th c.a).

[33] [34] L’arrêt “canadian dredge & dock co.c. la reine (1985) 1 r.c.s. 662).

[34] [35] de l’ emploi et de immigration c.bhatnager (1990) 2 r.c.s 217.

[35] [36] lennard’s carrying company ltd. v. Asiatic petroleum company ltd.[(1915) a.c.705].

[36] [37] Tesco Supermarkets Ltd. v. Nattrass 1972) A.C. 705.

[37] [38] Criminal Code Act of Australia, 1995, §.12.3(6)

[38] [39] China, Japan and South Korea on the criminal liability of legal persons, Free Papers Download Center http://eng.hi138.com, Posted:2008-6-23 9:13:00 Browse:5321.

[39] [40] 40Xem B. Fisse, Corporate Criminal Responsibility (1991) 15 Crim. L.J. 166; R. N. Purvis, Corporate Crime, Butterworth, Sydney, 1979.

[40] [41] Patrick Moulette, Head of the Anti-corruption Division of OECD, Speaking notes at intenational workshop oncriminal liability of legal persons, Santiago, 19-20july 2010, p.9.

[41] [42] Criminal responsibility of legal person in common law jurisdictions, Paper prepared for OECD anti-Corruption Unit, Paris, October 2000; Home Office, “Consultation Paper Reforming the Law in Involuntary Manslaughter: The Government’s Proposals”, 2000; proposed Crime (Industrial Manslaughter) Bill, Department of Justice, and Workcover Authority, Victoria, Australia, 2000.

[42] [43] Xem: Prof. Vid Jakylin, The criminal liability of legal persons in the Respublic of Slovevenia, faculty of law, University of Liubljana, Slovenia, tr.2.

[43] [44] Joel M. Androphy, Richard G. Paxton & Keith A. Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex. B.J. (1997)

[44] [45] Điều 121-2 Bộ luật hình sự của Pháp; Điều 51 Bộ luật hình sự Hà Lan; Điều 5 Bộ luật hình sự Bỉ, Điều 100 quanter của Thụy Sỹ, Điều 2 Bộ luật hình sự Canada…

[45] [46] Chuyên đề của tác giả Đổng Hiểu Tùng và Đỗ Đức Hồng Hà, lập pháp hình sự và thực tiễn truy cứu TNHS đối với tổ chức ở Trung Quốc.

[46] [47] Điều 121-2 Bộ luật hình sự Pháp; Điều 5 Bộ luật hình sự Bỉ; Điều 100 quanter Bộ luật hình sự Thụy Sỹ; Điều 207 Bộ luật hình sự mẫu Hoa Kỳ, Điều 30 Bộ luật hình sự Trung Quốc

[47] [48] Xem: Cao Thị Oanh, chuyên đề TNHS của tổ chức theo quy định của pháp luật một số nước Asean

[48] [49] Tuy nhiên, ngày 9/3/2004 luật Perben I1 (Điều 54) đã xoá bỏ khoản 2 Điều 121 – 2 Bộ luật hình sự. Như vậy, theo luật này TNHS được áp dụng đối với mọi tội phạm do pháp nhân thực hiện.

[49] [50] Xem: Chuyên đề của Đổng Hiểu Tùng và Đỗ Đức Hồng Hà, Lập pháp hình sự và thực tiễn truy cứu TNHS đối với tổ chức ở Trung Quốc.

[50] [51] Xem: TS. Cao Thị Oanh, Chuyên đề TNHS của tổ chức theo quy định của pháp luật một số nước Asean

[51] [52] Patrick Moulette, Head of the anti-corruption division of oecd, speaking notes at intenational workshop on criminal liability of legal persons, Santiago, 19-20july 2010, p.5.

[52] [53] Điều 47 Luật quản lý môi trường sống Indonesia năm 1997; Điều 63 Luật b¶o vÖ ng−êi tiªu dïng Indonesia.

 

Advertisements

One thought on “89. Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của tổ chức

  1. Pingback: 85. Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức – Vietnamese Corporate Law

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s