88. Cở sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam

Bài dưới đây là Chuyên đề 1 trong Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức ủa Viện Khoa học Pháp lý thuộc Bộ tư pháp do TS Cao Thị Oanh làm chủ nhiệm đề tài, xuất bản năm 2011.

Vì lý do kỹ thuật, tất cả các trích dẫn cuối trang (footnotes) trong tài liệu gốc được chuyển thành trích dẫn cuối tài liệu (endnotes) và số trong [ngoặc vuông] thứ hai trong endnotes chính là footnotes trong tài liệu gốc.

Chuyên đề 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, PHÁP NHÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

PGS.TS. Trần Văn Độ

Tòa án Quân sự trung ương

Quy định TNHS đối với pháp nhân là xu thế chung trong pháp luật hình sự thế giới ở góc độ quốc gia cũng như góc độ các văn bản pháp luật quốc tế. Ở Việt Nam xu thế đó không phải là ngoại lệ. Vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình đó có ý nghĩa rất quan trọng.

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề trên và đã có một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu còn rất hạn chế: về nội dung, mới bước đầu lý giải cơ sở TNHS của pháp nhân và chủ yếu giới thiệu pháp luật của các nước; về mức độ, ngoài Luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Tuệ Phương, các công trình được công bố chủ yếu là các bài báo khoa học (trong đó, có một số bài của Nghiên cứu sinh Trịnh Quốc Toản khi đang thực hiện Luận án tiến sỹ liên quan đến Đề tài này).

Vì vậy, có thể nói, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định TNHS đối với pháp nhân có tính cấp thiết cao và có ý nghĩa quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn.

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, bằng cách quán triệt các quan điểm lý luận cũng như thực trạng xã hội và pháp luật hình sự Việt Nam, tham khảo quan điểm và pháp luật một số nước, chúng tôi cố gắng giải quyết các vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn của việc quy định TNHS đối với pháp nhân trong luật hình sự nước ta, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật có hiệu quả.

  1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của tổ chức

1.1. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự

1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trong pháp luật hình sự các nước không có định nghĩa lập pháp về khái niệm TNHS. Khái niệm này chỉ được các nhà hình sự học đề cập đến trong khoa học luật hình sự. Mặc dù các nhà hình sự học có các quan điểm cụ thể có khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất với nhau rằng TNHS có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

TNHS là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, TNHS thoả mãn tất cả các dấu hiệu của trách nhiệm pháp lý nói chung được hiểu theo nghĩa bị động và các dấu hiệu đó được cụ thể hoá trong luật hình sự.

TNHS là hậu quả pháp lý tất yếu của việc thực hiện tội phạm. Nguyên tắc không tránh khỏi TNHS khi thực hiện tội phạm là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự nước ta. Nguyên tắc này bảo đảm có sự công bằng và bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Một người có năng lực TNHS và có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS thì phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi theo quy định của pháp luật.

Bản chất của TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội. Bằng cách áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người phạm tội, Nhà nước thể hiện thái độ của mình đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi đó. Như vậy, TNHS là biện pháp tác động hữu hiệu của Nhà nước lên người phạm tội và những người khác trong phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự pháp luật và giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật.

TNHS là quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước và người thực hiện tội phạm. Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước có quyền thông qua các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toà án truy cứu TNHS và áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người phạm tội. Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi theo quy định của pháp luật và có quyền đòi hỏi Nhà nước truy cứu TNHS đối với họ trong phạm vi quy định của pháp luật.

TNHS mang tính công. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tuyên bố một người có tội và áp dụng hình phạt đối với họ bằng bản án. Tính công của TNHS còn thể hiện ở chỗ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu là trước Nhà nước chứ không phải trước tổ chức, cá nhân nào đó.

TNHS được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt là hình phạt. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước so với các biện pháp cưỡng chế pháp lý khác. Người chịu TNHS phải bị tước bỏ hoặc hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp về vật chất hoặc tinh thần và việc đó được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước.

Ngoài hình phạt, TNHS còn được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế hình sự khác như: bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 Bộ luật hình sự), tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41 Bộ luật hình sự), giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành thành niên phạm tội (Điều 70 Bộ luật hình sự) v.v. Các biện pháp này có thể được áp dụng bổ sung hoặc thay thế cho hình phạt.

TNHS được thực hiện chủ yếu bằng hình phạt. Tuy nhiên, trong trường hợp nhất định người phạm tội chịu TNHS nhưng không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ cũng đủ cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung.

Trên cơ sở phân tích các đặc điểm của TNHS, các nhà hình sự học nước ta tuy đưa ra các định nghĩa cụ thể khác nhau về TNHS nhưng nhìn chung có thể tóm lược lại cơ bản như sau: TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình, được thực hiện bằng hình phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của BLHS[1].

1.1.2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Cơ sở của TNHS được quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS”.

Việc Bộ luật hình sự quy định cơ sở của TNHS có ý nghĩa chính trị – xã hội cũng như pháp lý quan trọng. Chỉ người nào thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP cụ thể (tức hành vi đó phải nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và được quy định trong Bộ luật hình sự) mới phải chịu TNHS. Quy định đó là bảo đảm quan trọng cho nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, loại trừ TNHS theo nguyên tắc tương tự đã từng được áp dụng trong thực tiễn tư pháp hình sự nước ta ở thời kỳ nhất định trước pháp điển hoá lần thứ nhất – thông qua Bộ luật hình sự năm 1985.

Giải quyết vấn đề cơ sở của TNHS tức là trả lời câu hỏi tại sao một người phải chịu TNHS. Để làm sáng tỏ và lý giải cụ thể cơ sở của TNHS, về mặt lý luận cần xem xét vấn đề từ góc độ các dấu hiệu khách quan cũng như các dấu hiệu chủ quan của tội phạm. Hay nói một cách khác, cần giải quyết cơ sở khách quan và sơ sở chủ quan của TNHS.

Từ góc độ các dấu hiệu khách quan của CTTP, chỉ người thực hiện hành nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự mới phải chịu TNHS. Một người đã có hành vi gây thiệt hại cho xã hội và hành vi đó đã được pháp luật hình sự quy định thành điều cấm thì người đó phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi (chế tài) do pháp luật quy định. Có như vậy, TNHS mới là biện pháp pháp lý hữu hiệu để phòng ngừa tội phạm, kìm giữ và răn đe việc thực hiện tội phạm đối với người phạm tội nói riêng và những người khác trong xã hội nói chung.

Từ góc độ chủ quan, cơ sở của TNHS là lỗi của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Lỗi trong luật hình sự được xây dựng trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tự do ý chí. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi và vì thế phải chịu TNHS là vì đã tự mình lựa chọn cách xử sự phạm tội trong hoàn cảnh hoàn toàn có thể tự do lựa chọn cách xử sự khác phù hợp với lợi ích xã hội.

1.2. Trách nhiệm hình sự của tổ chức

1.2.1. Khái quát thực trạng quy định trách nhiệm hình sự của tổ chức

Trong lịch sử pháp luật hình sự thế giới, một thời gian dài, TNHS cá nhân và TNHS theo lỗi được xác định và ghi nhận như là những nguyên tắc của luật hình sự. Sở dĩ như vậy là vì khi xem xét cơ sở của TNHS, luật hình sự đánh giá tính quyết định không chỉ của yếu tố hành vi khách quan mà cả yếu tố tâm lý đạo đức chủ quan của người thực hiện hành vi đó để xác định có tội hay không có tội, trong khi đó, theo quan niệm truyền thống thì tổ chức hoặc pháp nhân không có yếu tố tâm lý đạo đức cho nên không thể là đối tượng đánh giá trong luật hình sự. Nói cách khác, tổ chức hoặc pháp nhân không thể là chủ thể của TNHS.

Từ quan điểm có tính chất quyết định này, nguyên tắc TNHS cá nhân trong luật hình sự được xác định và hầu như toàn bộ các vấn đề lý thuyết về luật hình sự (như khái niệm tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm, các chế định TNHS và hình phạt…) đều xuất phát từ nguyên tắc này và thể hiện cụ thể của nguyên tắc này trong các quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn tố tụng hình sự. Quan điểm này được các nhà lập pháp cũng như hình sự học Việt Nam công nhận trong thời gian dài.

Cùng với sự phát triển của luật hình sự và tình hình tội phạm, khi mà tội phạm có tổ chức, các tổ chức phạm tội phát triển, các tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền… xảy ra ngày càng nghiêm trọng, trong đó vai trò tổ chức chủ yếu thay thế cho cá nhân trong việc thực hiện tội phạm. Đặc biệt, trong một số trường hợp nhiều khi khó giải thích tại sao lại lại truy cứu TNHS cá nhân… thì quan niệm chỉ có TNHS cá nhân đã được thay đổi nhanh chóng, nhất là thời gian nửa sau thế kỷ XX ở cả mức độ pháp luật quốc tế lẫn quốc gia.

Ở mức độ pháp luật quốc gia, số lượng các quốc gia quy định TNHS pháp nhân hay tổ chức ngày càng tăng. Xu thế quy định TNHS của tổ chức được coi là tất yếu trong sự phát triển của luật hình sự thế giới. Ở các quốc gia theo hệ thống thông luật, TNHS của tổ chức đã được quy định tương đối lâu (bắt đầu từ thế kỷ XIX) còn ở các quốc gia theo hệ thống luật lục địa, mặc dù muộn hơn nhưng cũng đã chấp nhận quan điểm TNHS của tổ chức nhằm đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm trong xã hội hiện đại. Ở các quốc gia chưa quy định TNHS của tổ chức, vấn đề trách nhiệm của tổ chức được quy định trong pháp luật dân sự và hành chính. Theo pháp luật của các quốc gia này thì pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại thì phải khắc phục hậu quả, phải bồi thường thiệt hại (luật dân sự) hoặc phải khắc phục hậu quả và bị xử phạt (luật hành chính).

Tuy nhiên, ở các quốc gia, quy định TNHS của tổ chức hoặc pháp nhân xuất phát từ các quan niệm khác nhau về lý luận cho nên phạm vi, mức độ cũng như hình thức TNHS được áp dụng cũng khác nhau. Trong pháp luật hình sự, pháp nhân, tổ chức phải chịu TNHS về loại tội phạm nào, chủ thể là cơ quan, tổ chức hay pháp nhân, bao gồm cả cơ quan công quyền hay chỉ các tổ chức kinh tế; nếu tổ chức hay pháp nhân phạm tội thì các loại hình phạt nào, các biện pháp tư pháp hình sự nào đươc áp dụng… đang được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia[2].

Ở mức độ pháp luật quốc tế, ngày càng nhiều các công ước quốc tế cũng như khu vực quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên ghi nhận TNHS của tổ chức hoặc pháp nhân trong pháp luật quốc gia. Các công ước đó bao gồm: Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Điều 10); Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (Điều 26); Tổ chức vì công ước quốc tế về hợp tác và phát triển kinh tế chống nạn hối lộ công chức nước ngoài (Điều 2), Công ước Cộng đồng châu Âu về chống tham nhũng bằng luật hình sự (Điều 18)…

1.2.2. Các học thuyết về cơ sở trách nhiệm hình sự của tổ chức

Theo quan niệm truyền thống, cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm. Nói cách khác, cơ sở TNHS là việc thực hiện hành vi cấu thành tội phạm. Để truy cứu TNHS đối với một người, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được hành vi phạm tội (actus reus) và yếu tố lỗi (mens rea) của người thực hiện hành vi đó. Yếu tố hành vi đòi hỏi phải có hành vi khách quan thể hiện ra bên ngoài và hậu quả do hành vi đó gây ra, yếu tố chủ quan đòi hỏi chủ thể có một thái độ tâm lý là khi thực hiện hành vi phạm tội nhận thức được hành vi và điều khiển được ý chí của mình. Quan điểm tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan (khách thể, mặt khách quan) và các yếu tố chủ quan (chủ thể, lỗi) đã được thừa nhận chung trong lý thuyết truyền thống về tội phạm. Điều này hoàn toàn đúng khi TNHS được áp dụng đối với thể nhân.

Trong khi đó, đối với pháp nhân, tổ chức, “con người pháp lý” được hình thành nên bởi sự kết hợp của nhiều thể nhân và “hành vi” của nó được thực hiện thông qua các thể nhân cụ thể thì lý thuyết truyền thống trở nên bất cập. Các vấn đề như pháp nhân có thái độ tâm lý, có thể tính đến yếu tố chủ quan, yếu tố lỗi như quan điểm truyền thống hay không, toàn bộ pháp nhân có phải chịu TNHS đối với hành vi do một số cá nhân thực hiện hay không… đang là chủ đề nghiên cứu của giới khoa học luật hình sự.

Trong bối cảnh đó, để giải quyết những vướng mắc về mặt lý luận trong việc áp dụng TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, các nhà luật học trên thế giới đã đưa ra các học thuyết làm nền tảng và luận giải cho vấn đề này. Khoa học luật hình sự thế giới ghi nhận các học thuyết cơ bản sau đây:

– Học thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious liability):

Trách nhiệm thay thế là hình thức đặc trưng trong luật dân sự. Học thuyết áp đặt trách nhiệm lên người đứng đầu hoặc tổ chức, pháp nhân đối với hành vi của người làm công hoặc đại lý. Để áp dụng TNHS đối với tổ chức, pháp nhân theo học thuyết này, cần phải: 1/ Xác định người làm công hoặc đại lý có hành vi cấu thành tội phạm theo quan niệm truyền thống; 2/ “Áp đặt” TNHS của các cá nhân đó lên tổ chức, pháp nhân dựa trên mối quan hệ pháp lý giữa họ trên cơ sở quy định của pháp luật về đại lý hoặc làm công.

Theo học thuyết trách nhiệm thay thế, bất cứ điều gì mà người làm công, người làm đại lý cho tổ chức, pháp nhân thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa tổ chức, pháp nhân với nhân viên theo quy định của pháp luật đều được coi là chính do tổ chức, pháp nhân thực hiện. Người làm công, làm đại lý phải thực hiện những công việc mà người chủ (hoặc tổ chức, pháp nhân) giao, đồng thời phải tuân thủ những nội quy, quy định mà người chủ (tổ chức, pháp nhân) đề ra. Cho nên, khi có sai phạm của người làm công, người làm đại lý thì người chủ, tổ chức, pháp nhân phải gánh chịu trách nhiệm.

Trách nhiệm thay thế được áp dụng không chỉ vì nó lý giải mang tính hợp lý, gần gũi với pháp luật dân sự, pháp luật hành chính mà còn vì hiệu quả thực tế mag nó mang lại. Việc buộc tổ chức, pháp nhân phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội của người làm công, người làm đại lý (bao gồm hình phạt, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả…) sẽ có tính hiệu quả hơn vì khả năng thực tài chính của tổ chức, pháp nhân. Đồng thời tính phòng ngừa của học thuyết này cũng rất quan trọng, bởi vì việc áp dụng TNHS buộc pháp nhân phải có những biện pháp hạn chế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên, nâng cao trách nhiệm trong quản lý, kiểm soát nhân viên, đòi hỏi nhân viên thực hiện các hoạt động phù hợp pháp luật.

Mặc dù vậy, theo chúng tôi, học thuyết trách nhiệm thay thế có phạm vi quá rộng khi quy định tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS trong trường hợp bất kỳ một nhân viên, đại lý nào (với chức vụ bất kỳ) có hành vi phạm tội vì lợi ích tổ chức, pháp nhân. Điều này càng bất cập trong thời đại công nghiệp, toàn cầu hóa với các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế có hàng vạn nhân công hiện nay.

– Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (Identification liability):

Tư tưởng chính của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm thể hiện cơ bản ở chỗ học thuyết này coi hành vi và lỗi của những người quản lý (chỉ đạo, điều hành) tổ chức, pháp nhân như chính là hành vi, lỗi của tổ chức, pháp nhân. Nói cách khác, hành vi, lỗi của tổ chức, pháp nhân được đánh giá thông qua hành vi, lỗi của cá nhân những người chỉ huy, quản lý, điều hành tổ chức, pháp nhân đó. Ví dụ, Điều 47 Luật công ty của Israel năm 1999 quy định: “Những hành vi và những ý định của một cơ quan hoặc cá nhân quản lý cũng chính là hành vi, ý định của công ty”. Vì vậy, khi nhân viên quản lý của công ty thực hiện hành vi phạm tội thì đồng thời, ngay lập tức và một cách trực tiếp, hành vi đó được coi là hành vi phạm tội của công ty.

Học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm có một quá trình phát triển lâu dài và tồn tại ở nhiều dạng khác nhau (nhưng giống nhau về bản chất) như thuyết alter ego (cái tôi thứ hai), thuyết organic (thuyết tổ chức), thuyết trách nhiệm trực tiếp của chính công ty… Các dạng này đều chung nhau hai điều kiện cần và đủ để truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân là: 1/ Hành vi phạm tội do người chỉ huy, quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân đó thực hiện nhân danh, thay mặt hoặc đại diện cho tổ chức, pháp nhân; 2/ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân.

Học thuyết này đơn giản hóa nhận thức và thủ tục truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Để truy cứu TNHS tổ chức, pháp nhân, người ta chỉ cần chứng minh hành vi, lỗi của các cá nhân và các cá nhân đó có chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân.

Có lẽ vấn đề quan trọng nhất của học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm chính là xác định người quản lý, chỉ đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân. Với rất nhiều loại hình tổ chức, pháp nhân với hình thức hoạt động, kinh doanh rất khác nhau, việc có được một tiêu chuẩn cứng để xác định các chủ thể này là điều rất khó khăn mà phải chấp nhận sự suy xét, đánh giá chủ quan. Dự thảo luật của một số quốc gia đã cố gắng đưa ra các tiêu chuẩn mang tính quy tắc chung để xác định vấn đề này. Ví dụ, Điều 2.07 Bộ luật hình sự mẫu Hoa kỳ quy định người làm đại lý cho công ty là đại lý quản trị cao cấp được đồng nhất với pháp nhân khi họ được giao “những nhiệm vụ mà với những nhiệm vụ đó, hành vi của họ chắc chắn được coi là hành vi thể hiện chính sách của công ty”. Thông thường, đây là những người có chức vụ, vị trí cao trong tổ chức, pháp nhân nhưng cao như thế nào thì vẫn không thể xác định được chắc chắn, cụ thể trong mọi trường hợp phạm tội cụ thể. Theo chúng tôi, đây chính là điểm hạn chế cơ bản nhất của học thuyết này.

– Học thuyết hệ thống/ văn hóa (Systems/Culture Theory)

Đây là một trong những học thuyết xuất hiện muộn hơn trong giải quyết vấn đề TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Khác với học thuyết trách nhiệm thay thế hay học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm khi đánh giá tội phạm thông qua người làm công hoặc người quản lý, chỉ huy, điều hành của tổ chức, pháp nhân (tức chủ thể của hành vi phạm tội), học thuyết hệ thống/văn hóa xác định tội của tổ chức, pháp nhân thông qua đánh giá vấn đề văn hóa của tổ chức, pháp nhân và thực hiện các quy định đó trong thực tế.

Văn hóa pháp nhân được hiểu là “thái độ, chính sách, nội quy, trật tự quản lý hay tiến hành các hoạt động được pháp nhân duy trì”. Văn hóa pháp nhân được thể hiện qua những yếu tố là: 1/ Nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức, pháp nhân trao cho một người hay một số người nào đó quyền để thực hiện hành vi cấu thành tội phạm; hoặc 2/ Người của tổ chức hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội vì tin tưởng một các có căn cứ hoặc hợp lý (qua văn hóa tổ chức, pháp nhân) rằng nhân viên quản lý cấp cao của tổ chức, pháp nhân sẽ cho phép hoặc chấp nhận những hành vi như vậy.

Theo học thuyết này, tổ chức, pháp nhân được coi là đã ủy quyền hoặc cho phép nhân viên của mình thực hiện hành vi phạm tội nếu chứng minh được rằng văn hóa mà tổ chức, pháp nhân đó đang duy trì đã tạo ta ở người thực hiện hành phạm tội tâm lý cho rằng tổ chức, pháp nhân khuyến khích, hoặc ít nhất là chấp nhận những hành vi như vậy. Nói cách khác, văn hóa mà pháp nhân đang duy trì vô hình chung đã thúc đẩy, tạo thuận lợi cho các nhân viên tổ chức, công ty thực hiện hành vi phạm tội hoặc ít nhất là không ngăn cản hình vi đó.

Vì vậy, để truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, cần phải có ba yếu tố: 1/ Thứ nhất, có hành vi phạm tội của nhân viên tổ chức, công ty; 2/ Thứ hai, nhân viên đó thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, thẩm quyền được giao hoặc ủy quyền; 3/ Thứ ba, thông qua văn hóa tổ chức, pháp nhân có chứng cứ cho thấy rằng nhân viên thực hiện hành vi phạm tội đó nhận thức được rằng tổ chức, pháp nhân đã chỉ đạo, ủng hộ hay không phản đối hành vi mà họ thực hiện hoặc có lỗi là đã không tạo ra và duy trì một kiểu văn hóa đòi hỏi sự thuân thủ pháp luật trong phạm vi tổ chức, công ty. Ví dụ, Điều 12.3 Bộ luật hình sự Australia quy định rằng ý định, nhận thức hay sự khinh suất sẽ được quy kết cho pháp nhân nếu chúng được thể hiện một cách rõ ràng hoặc ngầm hiểu trong việc ủy quyền hoặc cho phép thực hiện hành vi phạm tội.

So với học thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm (chỉ thông qua hành vi của lãnh đạo, chỉ huy, người quản lý, nhân viên cấp cao), học thuyết văn hóa pháp nhân xác định phạm vi TNHS của tổ chức, pháp nhân rộng hơn; bất kỳ hành vi phạm tội nào của nhân viên tổ chức, pháp nhân cũng có thể được quy kết cho tổ chức, pháp nhân. Tuy nhiên, học thuyết này có hạn chế ở chỗ do “văn hóa” pháp nhân được hình thành và ghi nhận có thể thành văn hoặc bất thành văn, cho nên việc chứng minh rằng tổ chức, pháp nhân đã khuyến khích, động viên hoặc ngầm đồng ý, chấp nhận cho cá nhân thực hiện hành vi phạm tội để trên cơ sở đó có thể truy cứu TNHS tổ chức, pháp nhân là một việc làm rất phức tạp và khó khăn trong thực tiễn.

Ngoài những học thuyết cơ bản nêu trên, trong luật hình sự thế giới còn tồn tại các học thuyết khác như: học thuyết trách nhiệm tổ chức (Organisational liability), học thuyết liên kết (Aggregation Theory) … Nghiên cứu các học thuyết này cho thấy chúng cũng rất gần với các học thuyết đã phân tích trên về cách lý giải cũng như điều kiện áp dụng.

Các học thuyết được phân tích trên chủ yếu được thực hiện ở các quốc gia theo hệ thống thông luật (common law) vốn không thật chặt chẽ, cụ thể trong luật nội dung. Các học thuyết trách nhiệm thay thế, đồng nhất trách nhiệm được áp dụng chủ yếu ở Hoa kỳ, Anh, Canada…; còn học thuyết văn hóa/hệ thống chủ yếu được áp dụng tại Australia[3].

TNHS đối với tổ chức, pháp nhân được công nhận và áp dụng muộn hơn ở các nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa và châu Á, những quốc gia vốn rất coi trọng tính đầy đủ, chặt chẽ của luật nội dung. Pháp luật hình sự của các quốc gia đã tiếp nhận những yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố hạn chế của các học thuyết trên để xác định được phạm vi hợp lý của việc truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm không chỉ từ phía các thể nhân mà cả từ phía các tổ chức, pháp nhân. Theo chúng tôi, tinh thần này thể hiện tương đối đầy đủ tại Điều 19 Dự thảo Bộ luật hình sự Macedonia và Điều 10 Công ước châu Âu về rửa tiền, truy tìm, thu giữ, tịch thu tiền do phạm tội mà có và tài trợ khủng bố.

Điều 19 Dự thảo Bộ luật hình sự Macedonia (MCC) quy định:

  1. Pháp nhân phải chịu TNHS về tội phạm, nếu:

a/ Tội phạm đó được thực hiện nhân danh, thay mặt hoặc vì lợi ích của pháp nhân; hoặc

b/ Tội phạm đó được thực hiện bởi bất kỳ thể nhân nào với tư cách cá nhân hoặc một phần pháp nhân thực hiện chức năng quản lý hoặc giám sát của pháp nhân trên cơ sở:

  • Đại diện của pháp nhân;
  • Có thẩm quyền thay mặt pháp nhân ra các quyết định; hoặc
  • Có thẩm quyền kiểm soát của pháp nhân.
  1. Pháp nhân cũng phải chịu TNHS về một tội phạm do sự thiếu sự giám sát, kiểm tra của thể nhân quy định tại điểm 1(b) tội phạm vì lợi ích của pháp nhân đã được thực hiện.
  2. TNHS đối với pháp nhân theo khoản 1 và khoản 2 Điều này không loại trừ việc truy cứu TNHS đối với thể nhân với vai trò là người chuẩn bị phạm tội hoặc tham gia thực hiện tội phạm.

Nói tóm lại, dù có cách lý giải khác nhau về TNHS của tổ chức, pháp nhân nhưng các học thuyết có những điểm chung là:

– Tổ chức, pháp nhân bao giờ cũng phải chịu TNHS thông qua hành vi phạm tội của thể nhân. Không có hành vi của thể nhân thì không có TNHS của pháp nhân.

– Giữa tổ chức, pháp nhân và thể nhân bao giờ cũng tồn tại mối quan hệ ràng buộc nhất định. Tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của thể nhân khi người đó thực hiện hành vi nhân danh tổ chức, pháp nhân, thay mặt tổ chức, pháp nhân hoặc chịu sự giám sát và vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân. Đồng thời, thể nhân đó thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, thẩm quyền và nhiệm vụ được tổ chức, pháp nhân giao. Trong thuyết trách nhiệm thay thế – đó là người làm công, đại lý và ràng buộc với nhau bằng hợp đồng; trong thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm – đó là người chỉ huy, quản lý, lãnh đạo, điều hành tổ chức, pháp nhân; trong thuyết văn hóa – đó là bất kỳ nhân viên nào của tổ chức, pháp nhân và ràng buộc với nhau bằng văn hóa pháp nhân.

– Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thông thường không loại trừ TNHS của cá nhân đã thực hiện hành vi cấu thành tội phạm cụ thể. Nói cách khác, đồng thời với việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân, người hoặc cơ quan có thẩm quyền còn có thể truy cứu TNHS cá nhân đã có hành vi mà vì nó tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS.

Việc lựa chọn học thuyết này hay học thuyết khác trong lý giải về cơ sở TNHS đối với tổ chức, pháp nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định phạm vi TNHS đối với tổ chức, pháp nhân (loại tội phạm phải chịu TNHS, loại tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS, loại người được ủy quyền…) trong hoạt động lập pháp của các quốc gia.

  1. Cơ sở thực tiễn quy định trách nhiệm hình sự của tổ chức

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến, hành vi của con người có tính chất riêng rẽ, vì lợi ích của một hay nhiều cá nhân. Vì vậy, mọi loại trách nhiệm pháp lý, kể cả TNHS đều thuộc về cá nhân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là hoạt động kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, các công ty – một trong những dạng đầu tiên của pháp nhân được hình thành, phát triển ngày càng phong phú và có vai trò quan trọng trong xã hội. Đặc biệt, sự phát triển của các công ty với quy mô, cấu trúc và hoạt động ngày càng phức tạp đã tạo ra những thách thức ngày càng lớn cho pháp luật. Hoạt động của các công ty không những mang đến những lợi ích to lớn cho sự phát triển của xã hội mà còn gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Nhằm đạt được lợi nhuận cao, vì lợi ích của công ty hay của một nhóm người nhất định mà nhiều công ty, nhiều doanh nghiệp, nhiều tập đoàn kinh tế đã có những hoạt động gây thiệt hại không chỉ về mặt vật chất, mà còn thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của con người.

Từ góc độ quản lý, thay cho vai trò cai trị của cá nhân trong xã hội nô lệ và phong kiến, chế độ quản lý tập thể đã hình thành trong thời đại công nghiệp. Ý chí của cá nhân trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội được thay thế bằng quản lý tập thể; trong trường hợp này, cá nhân chỉ thay mặt tập thể, nhân danh tập thể để hoạt động, điều hành.

Như vậy, trong xã hội hiện đại, vai trò tập thể trong hoạt động kinh tế của các công ty, tập đoàn, doanh nghiệp, trong hoạt động quản lý điều hành cơ quan, tổ chức ngày càng to lớn và rõ nét. Hành vi của các cá nhân trong trường hợp này được thực hiện chủ yếu là nhân danh pháp nhân, tổ chức, thay mặt pháp nhân, tổ chức hoặc vì lợi ích của pháp nhân, tổ chức chứ không hoàn toàn vì lợi ích cá nhân. Hành vi của cá nhân trong trường hợp này thông thường mang lại lợi ích cho pháp nhân, tổ chức nhưng cũng không ít trường hợp, ngoài lợi ích mang lại cho tổ chức, pháp nhân, hành vi của các cá nhân này cũng gây thiệt hại cho xã hội ở các mức độ khác nhau.

Theo truyền thống, để phòng ngừa và chống lại tình trạng này, pháp luật các nước quy định trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính đối với pháp nhân, tổ chức và TNHS đối với cá nhân (kể cả trong trường hợp thực hiện hành vì động cơ cá nhân, kể cả trường hợp vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân). Thậm chí, trong nhiều trường hợp việc truy cứu TNHS pháp nhân đã loại trừ trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính của tổ chức, pháp nhân.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng:

Thứ nhất, việc truy cứu TNHS cá nhân trong trường hợp này không đảm bảo tính phòng ngừa, không thể ngăn chặn pháp nhân, tổ chức tiếp tục có những hành vi gây thiệt hại. Pháp nhân không bị xử phạt thì cá nhân này bị truy cứu TNHS, sẽ có cá nhân khác thay thế để thực hiện các hành vi tương tự vì mục đích của pháp nhân, tổ chức.

Thứ hai, việc truy cứu TNHS đối với cá nhân hành động nhân danh, thay mặt hoặc vì lợi ích của tổ chức hoặc pháp nhân là không công bằng.

Thứ ba, việc truy cứu TNHS các tổ chức, pháp nhân tỏ ra hiệu quả hơn trong việc thi hành hình phạt và bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Chủ thể là pháp nhân, tổ chức sẽ có khả năng tốt hơn để thi hành các hình phạt đặc trưng cho hình thức TNHS đối với tổ chức, pháp nhân như phạt tiền, tịch thu tài sản hoặc để thi hành quyết định về các biện pháp tư pháp như bồi thường thiệt hại, sữa chữa, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra… Chính vì những lý do đó mà đã xuất hiện nhu cầu khách quan truy cứu TNHS của tổ chức, pháp nhân. Nhu cầu thực tế này đã được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật thế giới. Đầu tiên, quá trình này được thực hiện ở một số nước theo hệ thống án lệ hơn 150 năm trước; và sau đó là các nước thuộc hệ thống Châu Âu lục địa trong nửa sau thế kỷ XX[4].

Mặc dù đã có lịch sử tương đối lâu trong quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, vấn đề TNHS của tổ chức, pháp nhân vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi không chỉ ở các nước chưa coi tổ chức, pháp nhân là chủ thể TNHS mà cả ở những nước mà pháp luật đã quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân. Các tranh luận này xoay quanh các chế định quan trọng mà xưa nay dường như đã được chấp nhận như là những lý thuyết cơ bản của luật hình sự như tính hợp lý, tính cần thiết của việc truy cứu TNHS của tổ chức, pháp nhân, lý giải cơ sở TNHS của tổ chức, pháp nhân, vấn đề phù hợp của việc truy cứu TNHS của tổ chức, pháp nhân với các nguyên tắc của luật hình sự (như nguyên tắc lỗi, nguyên tắc TNHS cá nhân) cũng như các chế định khác của luật hình sự (như khái niệm tội phạm, các điều kiện về chủ thể của tội phạm, vấn đề lỗi trong luật hình sự, vấn đề TNHS và hình phạt áp dụng đối với pháp nhân) v.v…[5]

Việt Nam vấn đề TNHS của tổ chức, pháp nhân chưa được quy định trong luật hình sự. Nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự được ban hành trước năm 1985 chúng tôi thấy tư tưởng coi tổ chức là chủ thể của tội phạm đã phần nào thể hiện qua quy định của pháp luật giai đoạn này. Ví dụ: điểm c khoản 2 Điều 12 Pháp lệnh ngày 21 tháng 10 năm 1970 Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tình tiết tăng nặng định khung là: “Cố ý giúp cho những tổ chức hoặc cá nhân tiến hành kinh doanh, bóc lột, đầu cơ hoặc phạm những tội khác”. Quy định này gián tiếp thể hiện tổ chức cũng có thể thực hiện một số tội nhất định. Tuy nhiên, tinh thần này không được cụ thể hóa qua các quy định về trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện tội phạm và do đó cũng không được áp dụng trong thực tiễn xét xử. Tư tưởng này được đặt ra chính thức trong quá trình xây dựng Bộ luật hình sự năm 1999. Trong những dự thảo ban đầu của quá trình xây dựng Bộ luật, những người soạn thảo đã xây dựng một số quy phạm cho phép truy cứu TNHS đối với pháp nhân, tổ chức. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận dự thảo cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề chưa được nghiên cứu sâu cho nên dự thảo đã không được chấp nhận ban hành chính thức. Từ đó, vấn đề TNHS của tổ chức, pháp nhân được tranh luận nhiều trong khoa học luật hình sự và trở thành một trong những vấn đề cấp thiết trong khoa học cũng như thực tiễn lập pháp hình sự nước ta[6].

Qua nghiên cứu các công trình đã được công bố, thực tiễn tình hình kinh tế xã hội và thực trạng hệ thống pháp luật nước ta và tham khảo pháp luật của nhiều nước cũng như các công ước quốc tế về vấn đề này, chúng tôi thấy, từ góc độ thực tiễn, tính cấp thiết của việc quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân được luận giải bằng các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, sự hình thành và phát triển của cơ chế kinh tế thị trường với sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế. Pháp luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh thương mại ngày càng thông thoáng tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Thay cho kinh tế cá thể nhỏ lẻ, nhiều tổ chức kinh tế được hình thành, các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được thành lập ngày càng nhiều, hoạt động kinh doanh ngày càng tấp nập… Kinh tế thị trường đã mang lại những những lợi ích vô cùng to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta. Cùng với những lợi ích đó, chúng ta cũng phải đối mặt với nhiều hiện tượng tiêu cực được coi là mặt trái của kinh tế thị trường như các hành vi phạm quy định về độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh, buôn lậu, xâm phạm sở hữu trí tuệ, gian lận thương mại, làm ô nhiễm môi trường… gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội. Những hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đó không phải do một hoặc những cá nhân nào đó, mà chủ yếu là do những tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác nhau thuộc mọi thành phần gây ra. Có lẽ, không chỉ các nhà hình sự học, mà mỗi công dân đều biết đến các sự kiện như việc gây ô nhiễm môi trường của Công ty Vedan Việt Nam làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, sự cố tràn dầu của tàu Neptune Aries (Singapore) ngày 03-10-1994 tại cảng Cát Lái gây thiệt hại ước tính 20.000.000 USD; vấn đề độc quyền của ngành điện gây thiệt hại cho xã hội; vấn đề dìm giá vì mục đích lợi nhuận của Tổng công ty măng ở những năm cuối thế kỷ XX và gần đây là hoạt động kinh doanh trái pháp luật của tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam, tập đoàn Vinasin… gây thiệt hại đặc biệt lớn cho nền kinh tế cũng như xã hội nước ta. Các hoạt động trái pháp luật, gây thiệt hại nêu trên là quyết định của các tập thể hội đồng quản trị, lãnh đạo điều hành các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp. Vì vậy, rõ ràng, trong những trường hợp này, việc xử lý vi phạm bằng pháp luật dân sự, pháp luật hành chính đối với tổ chức và chỉ truy cứu TNHS một số cá nhân điều hành nhân danh, thay mặt và vì lợi ích tổ chức là chưa đủ để đạt được mục đích răn đe, phòng ngừa ngăn chặn tái phạm, vi phạm pháp luật; không công bằng trong việc xử lý đối với các cá nhân bị truy cứu TNHS.

Thứ hai, trong xã hội nước ta, nhất là đối với các cơ quan, tổ chức, việc điều hành, quản lý được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách… Theo các nguyên tắc này, các quyết định quan trọng về phương hướng hoạt động, về hoạt động cụ thể nào đó liên quan đến lợi ích tổ chức, doanh nghiệp đều được thông qua bởi tập thể theo các hình thức khác nhau (hội đồng quản trị, tập thể ban giám đốc, tập thể lãnh đạo cơ quan, thậm chỉ là của cấp ủy…). Các cá nhân được giao chỉ sử dụng các biện pháp điều hành cụ thể để thực hiện mà không được làm trái các quyết định đó. Thực tiễn xét xử cho thấy, khi xét xử các tội phạm, nhất là tội phạm về kinh tế, tội phạm về chức vụ… Nhiều bị cáo cho rằng họ thực hiện hành vi phạm tội là do thực hiện quyết định của tập thể, nên họ không phạm tội hoặc cần được giảm nhẹ TNHS. Vì vậy, trong những trường hợp này việc chỉ truy cứu TNHS đối với cá nhân nào đó là hoàn toàn thiếu hợp lý, thiếu công bằng, và vì vậy hiệu quả của việc xử lý không cao.

Thứ ba, việc không truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân ảnh hưởng rất lớn đến đến hiệu quả của việc xử lý vi phạm pháp luật, đến việc giải quyết việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả vật chất cũng như tinh thần do tội phạm gây ra đối với tổ chức, cá nhân. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức, pháp nhân vi phạm pháp luật có thể bị xử phạt hành chính, bị buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại gây ra. Cán bộ, công chức phạm tội trong khi thi hành công vụ hoặc liên quan đến công vụ được giao thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại; còn người phạm tội chỉ có trách nhiệm hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiến bồi thường đó[7]. Theo đó, tổ chức, pháp nhân chỉ là bị đơn dân sự mà không thể là bị cáo nên ngoài trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng; tổ chức, pháp nhân đó không chịu bất kỳ biện pháp cưỡng chế pháp lý nào khác.

Tuy nhiên, biện pháp xử phạt hành chính không bao giờ tương xứng với hành vi vi phạm và những thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra. Ví dụ: thiệt hại do công ty Vedan gây ra là hàng ngàn tỷ đồng nhưng Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ xử phạt công ty này 267 triệu đồng, truy thu phí bảo vệ môi trường trên 100 tỷ đồng, việc bồi thường thiệt hại chưa được giải quyết; thiệt hại do sự cố tràn dầu của tàu Neptune Aries (Singapore) ngày 03-10-1994 tại cảng Cát Lái gây thiệt hại ước tính 20.000.000 USD nhưng tòa án chỉ buộc công ty sở hữu tàu bồi thường hơn 3 tỷ đồng (khoảng 2 triệu USD) và xử phạt hành chính không quá 70 triệu đồng; các hành vi vi phạm pháp luật của tập đoàn than, khoáng sản Việt Nam, của Vinasin chưa được xử lý về mặt pháp luật… Như vậy, có thể thấy những hậu quả pháp lý hành chính, dân sự mà pháp nhân phải gánh chịu không đủ nghiêm khắc để phòng ngừa tái phạm, bù đắp những thiệt hại gây ra khi mà những lợi ích trái pháp luật mà các pháp nhân có được từ những hành vi trái pháp luật lại lớn hơn rất nhiều.

Thứ tư, việc không truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân trong nhiều trường hợp đã gây nên những khó khăn trong việc xử lý vi phạm. Ví dụ, nếu truy cứu TNHS thì cơ quan tiến hành tố tụng có quyền chủ động khởi tố vụ án hình sự, chứng minh và truy cứu TNHS đối với chủ thể TNHS còn theo luật tố tụng dân sự, cho đến nay vẫn chưa xác định được ai là người chịu trách nhiệm khởi kiện yêu cầu công ty Vedan bồi thường thiệt hại và nếu khởi kiện thì những người nông dân không có đủ khả năng để chứng minh được thiệt hại gây ra theo quy định của luật tố tụng dân sự là đương sự phải chứng minh cho yêu cầu của mình.

Hơn nữa, việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại luôn đi kèm theo dự phí án phí dân sự không phải nhỏ mà không phải người bị thiệt hại nào cũng lo được và chính người khởi kiện phải tự mình chứng minh thiệt hại phải gánh chịu. Chính vì những lý do về mặt thủ tục này mà những người nông dân tỉnh Đồng Nai đang lưỡng lự chưa dám quyết định trong việc khởi kiện yêu cầu Vedan bồi thường thiệt hại.

Rõ ràng, trong những trường hợp này, việc áp dụng thủ tục tố tụng hình sự để xử lý vi phạm là hợp lý nhất để xử lý nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của xã hội, của người bị thiệt hại.

Thứ năm, cần đảm bảo tính thống nhất của pháp luật và sự bình đẳng của cá nhân và tổ chức trong xử lý tội phạm. Việc không quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân đang tạo ra sự thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật và sự bất bình đẳng, thiếu công bằng trong xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật ở nước ta. Cùng một hành vi phạm tội, nhưng với các chủ thể khác nhau thì được xử lý khác nhau từ góc độ định tội danh cũng như biện pháp TNHS. Ví dụ, cùng một hành vi làm giả giấy tờ để chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng nhưng những người thuộc doanh nghiệp tư nhân phải chịu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; còn người trong các doanh nghiệp nhà nước thì có thể bị truy cứu TNHS về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Hay hành vi trốn thuế của cá nhân thì có thể phải bị truy cứu TNHS về tội trốn thuế còn doanh nghiệp Nhà nước trốn thuế thì chỉ có thể bị xử phạt hành chính với tính chất và mức độ cưỡng chế thấp hơn nhiều.

Hơn nữa, hành vi phạm tội của tổ chức, pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của một hay nhiều cá nhân là thành viên của tổ chức, pháp nhân đó. Các cá nhân đó thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt, vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân hoặc ít nhất là hành vi đó được tổ chức, pháp nhân chấp nhận và chịu sự kiểm soát của tổ chức, pháp nhân mà người đó là thành viên. Thế nhưng, nếu pháp luật hình sự quy định cá nhân đó có thể phải chịu TNHS, còn pháp nhân có thể được hưởng lợi từ hành vi đó thì lại không phải chịu TNHS là một điều bất hợp lý, thiếu thuyết phục.

Như vậy, cùng một hành vi nguy hiểm cho xã hội như nhau, nhưng nếu hành vi đó do cá nhân thực hiện thì có thể bị truy cứu TNHS còn pháp nhân thì chỉ có thể bị xử phạt hành chính, mà không phải chịu TNHS. Đó chính là sự thiếu thống nhất, sự bất bình đẳng trong pháp luật nước ta nói chung, trong pháp luật hình sự nói riêng. Điều này, theo PGS.TS. Phạm Hồng Hải, vô hình chung trở thành sự khuyến khích cho những hành vi vi phạm pháp luật nghiên trọng của pháp nhân[8].

Ngoài ra, hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong đó có hội nhập về pháp luật, tư pháp đang diễn ra mạnh mẽ dẫn đến đòi hỏi sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước. Trong khi pháp luật của rất nhiều quốc gia trên thế giới quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, pháp nhân phạm tội thì Việt Nam cũng cần tiếp thu và vận dụng một cách phù hợp vấn đề này.

Những phân tích trên, cùng với xu thế quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân ngày càng phổ biến trên thế giới cho thấy quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân là một nhu cầu cấp thiết, không thể trì hoãn trong luật hình sự Việt Nam nhằm đáp ứng các mục đích sau đây của thực tiễn lập pháp cũng như áp dụng pháp luật: 1/ Ngăn ngừa vi phạm pháp luật nghiêm trọng ngày càng phổ biến của tổ chức, pháp nhân; 2/ Đảm bảo xử lý hiệu quả, công bằng, bình đẳng đối với công dân, tổ chức trước pháp luật; 3/ Đảm bảo tính hệ thống trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

  1. Những vấn đề lý luận cần giải quyết liên quan đến quy định trách nhiệm hình sự của tổ chức trong luật hình sự Việt Nam

Từ trước đến nay, các vấn đề lý thuyết trong luật hình sự Việt Nam được giải quyết trên cơ sở nguyên tắc TNHS cá nhân, trong mọi trường hợp phạm tội, chỉ có cá nhân mới phải chịu TNHS. Việc quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân làm phát sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết để các quy định đó được lý giải hợp lý không chỉ về mặt thực tiễn mà cả về lý luận.

Chấp nhận TNHS đối với tổ chức, pháp nhân về mặt thực tiễn là chấp nhận việc thay đổi lý thuyết về các vấn đề liên quan như lý thuyết về tội phạm và các dấu hiệu cấu thành tội phạm về các yếu tố khách quan cũng như các yếu tố chủ quan, về TNHS, cơ sở TNHS và các hình thức TNHS …

3.1. Một số vấn đề lý luận về tội phạm

Theo quan điểm truyền thống trong luật hình sự nước ta, tội phạm là hành nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quan hệ xã hội do luật hình sự bảo vệ.

Từ góc độ lý thuyết về tội phạm, liên quan đến TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, chúng tôi thấy những vấn đề sau đây phải giải quyết:

3.1.1. Lý luận về hành vi phạm tội

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; những tư tưởng, quan điểm của con người chưa thể hiện ra bên ngoài bằng các xử sự khách quan thì chưa phải là tội phạm. Vì vậy, có câu hỏi được đặt ra là nếu trong luật hình sự coi hành vi là xử sự có ý thức và được điều khiển bằng lý trí của con người thì liệu tổ chức, pháp nhân có hành vi phạm tội để từ đó phải chịu TNHS hay không?

Các học thuyết về TNHS đối với tổ chức, pháp nhân cho rằng quy định về TNHS đối với tổ chức, pháp nhân không trái quan điểm truyền thống của khoa học luật hình sự, bởi vì: 1/ Một là, tổ chức, pháp nhân chịu TNHS thông qua hành của thể nhân ở dạng đại diện, được ủy quyền (thuyết trách nhiệm thay thế, thuyết văn hóa pháp nhân…) hoặc ở dạng đồng nhất, coi hành vi lãnh đạo, chỉ huy, điều hành của cá nhân có thẩm quyền chính là hành vi của tổ chức, pháp nhân; 2/ Hai là, không phải mọi trường hợp người phải chịu TNHS phải trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ, trong trường hợp đồng phạm thì chỉ người thực hành mới là người trực tiếp thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm còn những người khác như tổ chức, xúi giục, giúp sức vẫn phải chịu TNHS. Đối với TNHS đối với tổ chức, pháp nhân cũng có thể được hiểu như là một dạng đồng phạm đặc biệt đó; 3/ Ba là, tổ chức, pháp nhân chỉ phải chịu TNHS trong trường hợp cá nhân thành viên pháp nhân thực hiện hành vi trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, ủy quyền được giao.

Lý giải khoa học này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định phạm vi các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS. Ví dụ, pháp luật hình sự nhiều nước không buộc pháp nhân phải chịu TNHS về các tội như giết người, cố ý gây thương tích, tội hiếp dâm… vì không một tổ chức, pháp nhân nào lại giao cho thành viên tổ chức mình chức năng, nhiệm vụ, hoặc ủy quyền cho họ làm những việc đó. Vì vậy, không thỏa mãn điều kiện hành vi của TNHS đối với tổ chức, pháp nhân.

3.1.2. Lý luận về chủ thể tội phạm

Theo lý thuyết truyền thống trong luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là người (cá nhân) đạt độ tuổi do pháp luật quy định, có năng lực TNHS và không thuộc trường hợp loại trừ TNHS[9].

Việc chấp nhận quy định TNHS của tổ chức, pháp nhân sẽ dẫn đến một sự thay đổi lớn trong lý luận về chủ thể của tội phạm. Trước đây, do quan niệm chủ thể tội phạm chỉ là thể nhân, cho nên các đặc điểm của chủ thể được quy định gắn liền với các đặc điểm của cá nhân, nhất là những đặc điểm về tâm sinh lý như độ tuổi, bệnh tật, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (năng lực TNHS).

Cùng với việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, rõ ràng các tiêu chí xác định chủ thể của tội phạm cần được nghiên cứu, thay đổi, bổ sung một cách hợp lý. Tổ chức, pháp nhân là một thực thể xã hội, không có cấu trúc sinh học, không có hoạt động tâm lý, nên không thể dùng các tiêu chí tâm sinh lý để xác định chủ thể của tội phạm trong trường hợp truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Vì vậy cho nên, cùng với việc xác định đặc điểm tâm sinh lý về chủ thể (thể nhân) tội phạm, pháp luật hình sự nhiều nước quy định các điều kiện kinh tế, xã hội để xác định chủ thể tội phạm. Hay nói cách khác đó là các điều kiện để xác định phạm vi các cơ quan, tổ chức phải chịu TNHS.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, chúng tôi thấy ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, nhu cầu phòng chống tội phạm, hệ thống cơ quan, tổ chức nhà nước… mà phạm vi chủ thể được quy định cũng khác nhau.

Từ góc độ có tài sản độc lập, có khả năng độc lập tham gia các hoạt động và tự mình chịu các hình phạt như phạt tiền, tịch thu tài sản…, pháp luật các nước chủ yếu xác định chủ thể của tội phạm thuộc hai nhóm sau:

– Chỉ các pháp nhân (có tài sản và có khả năng tự chịu trách nhiệm về tài sản của mình) mới phải chịu TNHS. Nhóm chủ thể này đặc trưng chủ yếu trong pháp luật của các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa;

– Các cơ quan, tổ chức không phân biệt có phải là pháp nhân hay không đều phải chịu TNHS. Nhóm chủ thể này đặc trưng chủ yếu trong pháp luật của các nước theo hệ thống luật án lệ.

Tư cách pháp nhân là tiêu chí quan trọng nhất để xác định phạm vi chủ thể phải chịu TNHS. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia theo tiêu chí này hay tiêu chí khác cũng quy định rất khác nhau. Các quốc gia chỉ thống nhất với nhau ở một điểm là Nhà nước không bao giờ là chủ thể phải chịu TNHS còn phạm vi xác định thì rất khác nhau. Ví dụ: có nước thì coi pháp nhân công quyền là chủ thể tội phạm; nhưng nhiều nước thì không coi cơ quan công quyền là chủ thể tội phạm, có nước quy định tổ chức xã hội, các hội, các đoàn thể… là chủ thể tội phạm, có nước lại không quy định như vậy…

Nghiên cứu pháp luật của một số nước, chúng tôi thấy rằng có nước quy định rất rộng phạm vi chủ thể TNHS (ví dụ, luật hình sự Pháp quy định tất cả các pháp nhân, trừ Nhà nước và một số trường hợp ngoại lệ, đều phải chịu TNHS; luật hình sự Trung quốc quy định chủ thể phải chịu TNHS là cơ quan, tổ chức, đơn vị…); có nước lại quy định rất hẹp phạm vi đó (như luật hình sự Singapore coi pháp nhân kinh tế là chủ thể duy nhất phải chịu TNHS).

Theo chúng tôi, để truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, buộc họ phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước, bảo đảm tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa thì buộc tổ chức, pháp nhân đó phải thỏa mãn những điều kiện nhất định. Hơn nữa, khác với TNHS của thể nhân, hình thức TNHS đối với tổ chức, pháp nhân chủ yếu là các biện pháp như phạt tiền, tịch thu tài sản, thu hồi giấy phép hoạt động hoặc một số biện pháp hạn chế hoạt động kinh tế khác. Vì vậy, để có thể đáp ứng mục đích của việc áp dụng TNHS, có thể gánh chịu được các biện pháp TNHS đặc thù đó, thì tư cách pháp nhân chính là điều kiện quan trọng nhất để xác định chủ thể TNHS.

Đồng thời, ngoài điều kiện chung, việc xác định chủ thể TNHS là pháp nhân cũng phải xuất phát từ các điều kiện kinh tế xã hội, bản chất nhà nước, truyền thống pháp luật và tính khả thi của việc quy định đó. Chúng tôi cho rằng, vì là lần đầu tiên quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, cho nên việc xác định một phạm vi hẹp chủ thể TNHS là hợp lý và khả thi; ngoài Nhà nước, chưa nên buộc các pháp nhân công quyền phải chịu TNHS.

3.1.3. Lý luận về lỗi

Theo luật hình sự nước ta, lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi đó gây ra. Từ góc độ xã hội, lỗi là việc người phạm tội tự mình lựa chọn một cách xử sự phạm tội trong khi có khả năng lựa chọn cách xử sự hợp pháp khác. Từ góc độ tâm lý, lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội bao gồm hai yếu tố lý trí và ý chí, trong đó lý trí thể hiện năng lực nhận thức về hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi gây ra và ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở lý trí. Các hình thức lỗi, các dạng lỗi là sự kết hợp khác nhau giữa các yếu tố nhận thức và ý chí đó.

Tổ chức, pháp nhân là “con người pháp lý”, không thể có hoạt động tâm lý, vì thế, không thể có lỗi theo quan điểm truyền thống nêu trên. Hiện nay, ở các nước quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, có lý giải khác nhau về vấn đề lỗi trong truy cứu TNHS đối với tổ chức, pháp nhân.

Một số nước không coi lỗi là yếu tố bắt buộc để phải chịu TNHS. Hay nói cách khác, các nước này chấp nhận việc buộc tội khách quan. Chủ thể chỉ phải chịu TNHS khi có lỗi (mens rea) không còn được coi là cơ sở chủ quan của TNHS.

Các nước khác, nhất là các nước theo thuyết đồng nhất hóa, thì đòi hỏi tổ chức, pháp nhân phải có lỗi. Và bởi vì cá nhân thực hiện hành vi phạm tội nhân danh, thay mặt, đại diện hoặc theo ủy quyền của tổ chức, pháp nhân; cho nên lỗi lỗi của cá nhân cũng được coi là (đồng nhất với) lỗi của tổ chức, pháp nhân. Luật hình sự các nước này không phủ nhận nguyên tắc lỗi trong TNHS, nhưng nhận thức về lỗi đã có sự thay đổi để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội.

Chúng tôi cho rằng, từ góc độ lý luận, việc áp dụng thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm với cách lý giải lỗi của tổ chức, pháp nhân đồng nhất với lỗi của cá nhân là người lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo, điều hành đã có hành vi nhân danh, thay mặt, đại diện vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao là hợp lý. Quan điểm giải quyết này tuy có khác nhưng cũng khá gần gũi với nguyên tắc lỗi trong lý luận luật hình sự truyền thống.

3.2. Trách nhiệm hình sự

Cùng với việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, nhiều vấn đề lý luận liên quan đến TNHS như khái niệm và các đặc điểm TNHS, nguyên tắc TNHS cá nhân, các hình thức TNHS… cũng cần được nhận thức khác đi so với trước đây. Có như vậy vấn đề TNHS đối với tổ chức, pháp nhân mới được lý giải rõ ràng về mặt lý luận, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

3.2.1. Khái niệm và các đặc điểm trách nhiệm hình sự

Nguyên tắc TNHS cá nhân đã không thể tồn tại trong điều kiện pháp luật quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Tuy nhiên, về bản chất pháp lý, TNHS của tổ chức, pháp nhân cũng giống như TNHS của thể nhân. Đó là hậu quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, pháp nhân phải gánh chịu do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân vì đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Nội dung TNHS đối với tổ chức, pháp nhân cũng như thể nhân đều là các biện pháp cưỡng chế nhà nước thể hiện ở các biện pháp hình phạt, biện pháp tư pháp hình sự và án tích.

Điểm khác nhau giữa TNHS của tổ chức, pháp nhân với thể nhân thể hiện các điểm cơ bản là: 1/ Chủ thể của TNHS khác nhau; 2/ Các hình thức TNHS (hình phạt) áp dụng đối với thể nhân và tổ chức, pháp nhân cũng khác nhau; và 3/ Phạm vi các tội phạm làm phát sinh TNHS cũng khác nhau. Theo quy định của đa số các nước, không phải mọi tội phạm được quy định đối với thẻ nhân đều được áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân.

Như vậy, TNHS của tổ chức, pháp nhân là hậu quả pháp lý bất lợi được thực hiện bằng hình phạt, biện pháp tư pháp hình sự và án tích do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân vì tổ chức, pháp nhân đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những trường hợp được quy định trong Bộ luật hình sự.

3.2.2. Các hình thức trách nhiệm hình sự

Mặc dù nội dung của TNHS là biện pháp cưỡng chế nhà nước thể hiện ở hình phạt, biện pháp tư pháp hình sự và án tích, nhưng do bản chất của thể nhân và tổ chức, pháp nhân khác nhau nên các biện pháp TNHS, nhất là hình phạt cũng có sự khác nhau.

Ở các nước có quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, pháp luật hình sự quy định hệ thống hình phạt dành cho tổ chức, pháp nhân khác nhau cơ bản và độc lập với hệ thống hình phạt dành cho thể nhân. Có những hình phạt (như tử hình, tước tự do, tước quyền công dân, trục xuất…) chỉ áp dụng cho thể nhân, mà không thể áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân; có những hình phạt (như giải thể, đóng cửa…) chỉ dành cho tổ chức, pháp nhân mà không thể áp dụng cho thể nhân; có hình phạt (như cảnh cáo, cấm hoạt động kinh doanh…) có thể áp dụng đối với thể nhân và cả đối với tổ chức, pháp nhân.

Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước có quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân, chúng tôi thấy các hình phạt sau đây có thể được áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân:

1/ Phạt tiền

2/ Tịch thu tài sản

3/ Giám sát tư pháp

4/ Thu hồi giấy phép hoạt động, cấm hoạt động, cấm huy động vốn, phát hành séc hoặc sử dụng thẻ thanh toán

5/ Đóng cửa cơ sở hoạt động

6/ Giải thể tổ chức, pháp nhân

7/ Niêm yết hoặc thông báo bản án, quyết định buộc tội của Tòa án…

Một điều đáng chú ý là một số nước quy định các hình thức TNHS rất phong phú đối với tổ chức, pháp nhân phạm tội. Ví dụ, pháp luật hình sự Pháp, Hà Lan, Thụy Sỹ quy định một hệ thống hình phạt rất phong phú để áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân. Cũng có những nước, chỉ quy định phạm vi rất hẹp các biện pháp TNHS đối với tổ chức, pháp nhân. Ví dụ, pháp luật hình sự Trung quốc, Mỹ… chỉ quy định phạt tiền là hình phạt duy nhất có thể áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân.

Cũng như đối với thể nhân, hình phạt quy định đối với tổ chức, pháp nhân là nhằm mục đích không chỉ trừng trị mà còn giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, theo chúng tôi, hệ thống hình phạt quy định đối với tổ chức, pháp nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu phải xuất phát từ các yếu tố quan trọng sau đây:

– Thứ nhất, bản chất TNHS của tổ chức, pháp nhân;

Thứ hai, phạm vi chủ thể là tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS. Các hình phạt mang tính chất kinh tế chủ yếu áp dụng đối với các pháp nhân kinh tế; các hình phạt như tịch thu tài sản, giải thể pháp nhân, cấm hoạt động… không thể áp dụng với chủ thể là cơ quan công quyền v.v…;

Thứ ba, phạm vi và bản chất các tội phạm mà tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS.

  1. Kết luận và kiến nghị

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam là một vấn đề mới và phức tạp. Bởi vì, TNHS đối với tổ chức, pháp nhân chưa được quy định và thực hiện trong pháp luật hình sự, và do đó chưa tồn tại trong thực tiễn tố tụng nước ta. Việc nghiên cứu chỉ được chúng tôi tiến hành trên cơ sở lý luận chung về TNHS, tham khảo các quan điểm lý luận, pháp luật và thực tiễn của một số quốc gia và vận dụng vào các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống (nhất là truyền thống pháp luật) nước ta. Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong một số kết luận và kiến nghị sau đây của chúng tôi:

4.1 Là một dạng trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm khắc nhất là tội phạm, TNHS đối với tổ chức, pháp nhân và TNHS đối với thể nhân cơ bản là giống nhau về bản chất, nội dung. Hai loại TNHS này khác nhau chủ yếu ở: chủ thể TNHS; phạm vi các tội phạm làm phát sinh TNHS và hệ thống các hình thức TNHS (hình phạt);

4.2 TNHS đối với tổ chức, pháp nhân được lý giải bằng các học thuyết khác nhau. Trong đó có các học thuyết như: thuyết trách nhiệm thay thế, thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm, thuyết văn hóa pháp nhân… Mỗi quốc gia, khi quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân đều dựa vào một hay các học thuyết nhất định. Trong đó, từ góc độ lý luận có lẽ thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm là chặt chẽ nhất, thuyết phục nhất và gần nhất với lý luận về TNHS đối với thể nhân.

Việc quán triệt học thuyết này hay học thuyết khác trong quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân là cơ sở lý luận để các quốc gia quy định: 1/ Phạm vi các tội mà tổ chức, pháp nhân phải chịu TNHS; 2/ Phạm vi tổ chức, pháp nhân là chủ thể TNHS; 3/ Các điều kiện để pháp nhân phải chịu TNHS; và 4/ Các hình thức TNHS có thể áp dụng đối với tổ chức, pháp nhân phạm tội…

Trong thời gian gần đây, một số quốc gia đã kết hợp các tư tưởng hợp lý của các học thuyết nêu trên để quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân.

4.3 Việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân đã đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng nhiều vấn đề lý luận về luật hình sự như: 1/ Khái niệm tội phạm; 2/ Quan niệm hành vi phạm tội; 3/ Quan niệm chủ thể của tội phạm; 4/ Quan niệm lỗi trong luật hình sự; và 5/ Lý luận về TNHS và hệ thống hình phạt trong luật hình sự…

4.4 Việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được đặt ra trên các cơ sở thực tiễn sau đây: 1/ Một là, tình hình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhiều thành phần; 2/ Hai là, tình hình vi phạm pháp luật nghiêm trọng của các tổ chức, pháp nhân, nhất là pháp nhân kinh tế trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội; 3/ Ba là, thực trạng pháp luật quy định về trách nhiệm đối với các vi phạm pháp luật của tổ chức, pháp nhân; 4/ Bốn là, thực trạng kém hiệu quả của việc xử lý vi phạm pháp luật của tổ chức, pháp nhân bằng các biện pháp xử phạt hành chính, biện pháp bồi thường thiệt hại; 5/ Năm là, sự bất cập, hạn chế, thiếu hiệu quả của các thủ tục xử lý hành chính, dân sự…

4.5 Những cơ sở lý luận và thực tiễn được phân tích, cùng với việc tham khảo pháp luật hình sự một số quốc gia đã khẳng định sự cần thiết khách quan của việc quy định TNHS đối với tổ chức, pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam nhằm đấu tranh phòng ngừa có hiệu quả các vi phạm pháp luật ngày càng phổ biến, càng nghiêm trọng của các tổ chức, pháp nhân ở nước ta.

4.6 Từ những kết luận trên, chuyên đề có một số kiến nghị sau đây:

Kiến nghị 1: Nên quán triệt tinh thần của thuyết đồng nhất hóa trách nhiệm với sự tham khảo kết hợp yếu tố hợp lý các học thuyết khác khi quy định TNHS đối với pháp nhân.

Theo chúng tôi, những tư tưởng cơ bản phải quán triệt là: 1/ hành vi, lỗi của pháp nhân chính là hành vi, lỗi của thể nhân là người lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo, điều hành pháp nhân; 2/ thể nhân thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân, thay mặt pháp nhân hoặc đại diện cho pháp nhân trong phạm vi chức vụ, quyền hạn hoặc ủy quyền của pháp nhân; 3/ thể nhân thực hiện hành vi vì lợi ích của pháp nhân; 4/ TNHS của pháp nhân không loại trừ TNHS của thể nhân đã thực hiện hành vi phạm tội.

Kiến nghị 2: Để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, tình hình vi phạm pháp luật và bản chất tổ chức hệ thống chính trị nước ta, hiện tại chỉ nên giới hạn chủ thể chịu TNHS là các pháp nhân kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, các đơn vị sự nghiệp hoạt động vì lợi nhuận.

Đồng thời, cũng chỉ nên hạn chế một phạm vi nhất định các tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS: đó là các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội; các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; các tội phạm về môi trường…

Kiến nghị 3: Xây dựng hệ thống hình phạt riêng để áp dụng đối với pháp nhân phạm tội. Trong đó các hình phạt mang tính kinh tế và phòng ngừa như phạt tiền, tịch thu tài sản, giám sát tư pháp, cấm hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh, giải thể pháp nhân… là những hình phạt mà theo chúng tôi là hợp lý với các chủ thể đề xuất và có tính hiệu quả cao.

Kiến nghị 4: Về kỹ thuật lập pháp: 1/ Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về khái niệm tội phạm, cơ sở TNHS, chủ thể tội phạm, hệ thống hình phạt… của phần chung để phù hợp với cơ sở TNHS của pháp nhân; 2/ Trong phần tội phạm của pháp luật hình sự, các tội có quy định TNHS của pháp nhân thì nên xây dựng một khung hình phạt với chế tài riêng để áp dụng đối với pháp nhân phạm tội.


[1] Xem: Từ điển luật học, Nxb. Bách khoa – Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 801; Giáo trình luật hình sự, Phần chung, Cao Thi Oanh (Chủ biên), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr. 173-175; Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr.530; Từ điển giải thích thuật ng học, Luật hình sự, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.126; Lê Cảm, Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội 1999, tr.75…

[2] [83] Các nội dung cụ thể về TNHS của pháp nhân theo pháp luật của các nước được đề cập cụ thể ở các chuyên đề khác.

[3] [84] Xem thêm: Hoàng Thị Tuệ Phương, Tài liệu đã dẫn, tr. 24-35; Criminal responsibility of legal person in common law jurisdictions, Paper prepared for OECD anti-Corruption Unit, Paris, October 2000…

[4] [85] Xem: Hoàng Thị Tuệ Phương, TNHS pháp nhân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr.9; Wells Celia, Corporations and Criminal responsibility, The second edition, Oxford University Press.

[5] [86] Xem: Prof. Vid Jakylin, The criminal liability of legal persons in the Respublic of Slovevenia, faculty of law, University of Liubljana, Slovenia, tr.2.

[6] [87] Bộ tư pháp, Bản thuyết minh về Dự án Bộ luật hình sự sửa đổi, 1999; Lê cảm, TNHS của pháp nhân- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí tòa án nhân dân, số 3-2000, tr.8-13; Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không, Tạp chí Luật học, số 6-1999, tr. 14-19; Phạm Văn Lợi, tội phạm về môi trường- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia; Các công trình của Trịnh Quốc Toản nghiên cứu về TNHS của pháp nhân trong luật hình sự một số nước…

[7] [88] Điều 618 Bộ luật dân sự.

[8] [89] Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không, Tạp chí Luật học, số 6-1999, tr. 17

[9] [90] Ví dụ: các tội từ chối khai báo, tội không tố giác tội phạm loại trừ chủ thể là người thân thích của người phạm tội, mặc dù họ đủ tuổi chịu TNHS và không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS.

Advertisements

One thought on “88. Cở sở lý luận và thực tiễn của việc quy định trách nhiệm hình sự đối với tổ chức, pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam

  1. Pingback: 85. Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tổ chức – Vietnamese Corporate Law

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s