78. Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam

Lê Nhật Bảo, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Doanh nghiệp xã hội là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện ở Việt Nam và trong thời gian gần đây thì doanh nghiệp xã hội đang nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, cũng như các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý. Hiện nay, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội được quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, nhìn chung hành lang pháp lý về doanh nghiệp xã hội ở nước ta còn rất sơ khai và cần được tiếp tục hoàn thiện. Bài viết của tác giả cung cấp một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam để góp phần mô tả rõ nét bản chất của doanh nghiệp xã hội nhằm xây dựng các chính sách điều chỉnh phù hợp và nâng cao nhận thức chung về doanh nghiệp xã hội. Abstract: Social enterprises is a new legal term in Vietnam and they are drawing considerable attention from the policy makers and legal researchers. Currently, the legal status of social enterprises is defined in Article 10 of the Law on Enterprises in 2014 and Decree No. 96/2015/ND-CP, the legal framework of social enterprises in Viet Nam is still very nascent and requires further improvement. This article provides some theoretical issues of social enterprises under Vietnam law to help illustrating the nature of social enterprises to tailored policy and raises public awareness of social enterprises.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp xã hội (DNXH) nhưng có các tiêu chí để xác định DNXH tại Điều 10. Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu, DNXH là doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, với mục đích hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng, trong đó sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường.

1. Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014

Theo điểm a khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì DNXH có tiêu chí đầu tiên là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không coi DNXH là một loại hình doanh nghiệp đặc thù riêng mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường, DNXH vẫn tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân[1].

Vì cũng là một doanh nghiệp nên để thành lập DNXH, doanh nhân xã hội (người bỏ vốn để thành lập DNXH được tác giả sử dụng thuật ngữ “doanh nhân xã hội”) phải thực hiện các thủ tục pháp lý thông thường để thành lập một doanh nghiệp trong số các loại hình doanh nghiệp đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014 thiết kế. Tiêu chí này thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH, tương tự doanh nghiệp thông thường, đó là có hoạt động kinh doanh. Theo đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Từ định nghĩa doanh nghiệp, kinh doanh của pháp luật doanh nghiệp và theo quan niệm truyền thống trong khoa học pháp lý ở nước ta, chính yếu tố “nhằm mục đích sinh lợi” là yếu tố căn bản, quyết định đến sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, “một thuộc tính không thể tách rời của doanh nghiệp”[2] và là “đích cuối cùng của các nhà kinh doanh”[3]. Từ đó có thể hiểu, mục đích chính khi thành lập doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, còn việc giải quyết các vấn đề xã hội vì lợi ích của cộng đồng không phải là mục tiêu chủ yếu của kinh doanh. Vì thế mà có quan điểm cho rằng, định nghĩa kinh doanh ở nước ta quá nhấn mạnh chủ nghĩa duy lợi, người soạn luật đã không khái quát được những doanh nghiệp không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận[4].

Ở khía cạnh khác, cũng xét từ định nghĩa “doanh nghiệp”, mục đích thành lập doanh nghiệp là nhằm thực hiện chức năng kinh doanh, mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp, được Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 xếp vào nhóm pháp nhân thương mại. Trong khi đó, theo Điều 76 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì DNXH là một pháp nhân phi thương mại, “vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên”[5]. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì DNXH thuộc phạm trù “doanh nghiệp”, hiểu theo logic đó thì DNXH phải là một pháp nhân thương mại, nhưng Bộ luật Dân sự đã không theo hướng đó. Dường như theo tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015, thì DNXH là một phạm trù nằm ngoài khái niệm doanh nghiệp, điều này đã tạo nên sự mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Hiện nay, thủ tục thành lập DNXH được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP). Giống như mọi doanh nghiệp khác, DNXH cũng có tên riêng của mình. Dựa trên các chuẩn mực về tên doanh nghiệp được pháp luật quy định, doanh nhân xã hội sẽ chủ động quyết định đặt tên cho DNXH. Theo các quy định từ Điều 38 đến Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì không có quy định riêng trong việc đặt tên cho DNXH. Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP thì có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH. Quy định có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH là một quy phạm tùy nghi, do người thành lập DNXH tự quyết định. Tuy nhiên, cả Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cấm hay hạn chế các nhà đầu tư sử dụng cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường. Hệ quả là thực tế có thể sẽ tồn tại những nhà đầu tư lợi dụng các cụm từ này trong việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình để Nhà nước, công chúng và đối tác nhầm lẫn về chủ thể nhằm kinh doanh không lành mạnh. Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có quy định cấm việc sử dụng các cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường, điều này cũng phù hợp với quy định pháp luật của Vương quốc Anh và Hàn Quốc.

2. Doanh nghiệp xã hội có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng

Theo điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì DNXH có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương, cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, cung cấp nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm… Chính các mục tiêu xã hội này trở thành động lực thôi thúc các doanh nhân xã hội thành lập DNXH và sử dụng phương án kinh doanh để giải quyết các vấn đề xã hội. Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 5 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP quy định DNXH phải thông báo cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh, để công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động. Thông qua hành vi pháp lý này, một doanh nghiệp thông thường sẽ khoác lên mình chiếc áo DNXH, từ đó Nhà nước và xã hội có thể nhận biết được địa vị pháp lý của DNXH, kèm theo đó là các quyền và nghĩa vụ của DNXH.

Tiêu chí này góp phần giúp chúng ta có cơ sở để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường khác. Cụ thể, ở doanh nghiệp thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thị trường để tìm ra nhu cầu của khách hàng, từ đó lên kế hoạch, chiến lược đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua hàng loạt các hoạt động kinh doanh được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Nói cách khác, chính lợi nhuận trở thành động lực để nhà đầu tư quyết định tìm giải pháp kinh doanh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận cho mình, có được lợi nhuận, tức nhà đầu tư đã thành công.

Trong khi đó, đối với DNXH thì yếu tố “sinh lợi” không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội. Các vấn đề xã hội trở thành động lực để doanh nhân xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nhân xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra. Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của DNXH đã đạt được, dù có thể chính DNXH không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ.

Như vậy, doanh nghiệp thông thường và DNXH là các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải có doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất và đích đến, cho nên có quan điểm cho rằng: “DNXH có thể có lợi nhuận, thậm chí cần lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội nhưng không “vì lợi nhuận” mà “vì xã hội””[6].

Trên thực tế, DNXH cũng hay bị nhầm lẫn với trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp (Coperate Social Responsibilities)[7]. TNXH là cam kết nỗ lực cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng thông qua quá trình kinh doanh và đóng góp của các doanh nghiệp một cách tự nguyện[8]. Bản chất của TNXH là ghi nhận sự cam kết tự nguyện của doanh nghiệp thực hiện những chuẩn mực đạo đức và xã hội vì mục tiêu con người và phát triển bền vững, mang tính chất là hoạt động bổ sung của doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện TNXH vẫn là các doanh nghiệp thông thường vẫn với mục tiêu và bản chất tìm kiếm lợi nhuận. Trong khi đó, tôn chỉ, mục đích và toàn bộ hoạt động của DNXH là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường đã xác định ngay từ khi thành lậpvà được duy trì trong suốt quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể, rõ ràng thông qua cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường, nếu DNXH có sự thay đổi hoặc chấm dứt mục tiêu xã hội thì DNXH phải thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Doanh nghiệp xã hội sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường

DNXH khi hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường. Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà DNXH đang theo đuổi. Tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là điểm phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường, thể hiện rõ nét tiêu chí “vì xã hội”. Theo điểm c khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì DNXH phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Con số 51% là nhằm mục đích tạo điều kiện, cơ hội cho DNXH huy động vốn kinh doanh từ các nhà đầu tư, thành viên, cổ đông khác bằng việc bảo đảm có phần cổ tức nhất định cho các nhà đầu tư này, qua đó góp phần phát triển bền vững cho DNXH[9]. Tiêu chí này góp phần định lượng rõ ràng, cụ thể mục tiêu vì xã hội của DNXH.

Mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và đem lại lợi ích cho cộng đồng là sứ mệnh cao cả của DNXH, đã làm cho DNXH khác hẳn với các doanh nghiệp thông thường và cũng không giống với các tổ chức từ thiện. DNXH mang đặc tính “lai” giữa doanh nghiệp thông thường và các tổ chức từ thiện[10]. Một bên là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính, còn một bên là các tổ chức phi Chính phủ được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy. Vì vậy, DNXH là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai chủ thể này để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể, vì thế mà phần lớn lợi nhuận được dùng để phục vụ cho xã hội, môi trường.

Ngoài ra, DNXH cũng có một số nét tương đồng với các doanh nghiệp công ích, cả hai đều hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu của xã hội, có thể đều cung cấp sản phẩm là các dịch vụ mang tính chất phục vụ lợi ích chung của xã hội như cung cấp nước sạch, dọn rác thải, bảo vệ môi trường…[11] Ở một chừng mực nhất định, các doanh nghiệp này có thể được xếp chung vào nhóm doanh nghiệp có cùng mục đích hoạt động chủ yếu[12]. Tuy nhiên, về bản chất DNXH được thành lập tự nguyện bởi các doanh nhân xã hội, DNXH mang tính ổn định, nhất quán, được quyết định bởi mục tiêu xã hội, không phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Trong khi đó, doanh nghiệp công ích được Nhà nước thành lập nên để sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức giao nhiệm vụ và được hưởng các ưu đãi đặc biệt[13].

4. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội   

DNXH khác với các doanh nghiệp thông thường ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận. Vì vậy, ngoài các quyền và nghĩa của doanh nghiệp nói chung, DNXH còn các quyền và nghĩa vụ đặc thù tương ứng với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội theo khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quyền và nghĩa cụ quan trọng của DNXH bao gồm:

Thứ nhất, DNXH phải duy trì mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận trong suốt quá trình hoạt động. Như đã phân tích, đặc trưng pháp lý để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường là ở mục tiêu và điều kiện phân phối lợi nhuận, vì vậy DNXH phải duy trì các tiêu chí này trong suốt quá trình hoạt động của mình. Pháp luật doanh nghiệp quy định các cơ chế để đảm bảo việc tuân thủ mục tiêu xã hội, môi trường của DNXH.

Thứ hai, DNXH được huy động và nhận tài trợ. Theo tìm hiểu và đánh giá của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, các DNXH ở Việt Nam còn khá non trẻ, được thành lập chủ yếu từ những ý tưởng mang tính cá nhân, có vốn đầu tư ban đầu đa phần là vốn tự đóng góp của các thành viên sáng lập với quy mô nhỏ. DNXH có đặc thù là không vì mục tiêu lợi nhuận, lại kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn các nhà đầu tư thương mại, cùng với đó là chi phí đầu tư cho nhân sự, quản lý của DNXH lại lớn hơn so với mức trung bình[14]. Vì vậy, DNXH đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề tài chính, vì vậy những khoản đóng góp, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân khác để phần nào bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của DNXH là rất cần thiết.

Thứ ba, DNXH không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trên cơ sở mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích của cộng đồng mà các DNXH mới có thể huy động được các nguồn tài trợ, còn các nhà tài trợ khi tài trợ vào DNXH thì mong muốn khoản tài trợ ấy được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Xét về bản chất, khoản tài trợ do DNXH huy động được không phải là tài sản thuộc sở hữu của DNXH, nên việc quyết định sử dụng khoản tài trợ ấy như thế nào bị giới hạn. Do đó, điểm d khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định DNXH chỉ được sử dụng các khoản tài trợ để trang trải chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký. Trường hợp DNXH vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/6/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Thứ tư, Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội. Với khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề về nhu cầu an sinh xã hội, phục vụ nhu cầu của những người nghèo, yếu thế nhất và đông nhất trong xã hội. Đây là nhóm người lâu nay vẫn được bảo trợ từ các chính sách của nhà nước, hay nói cách khác, đây là “gánh nặng” của ngân sách nhà nước[15]. DNXH chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước, góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm, thu nhập và cơ hội để nhóm tầng lớp này tự tin, hòa nhập, từ đó giúp họ có cuộc sống ổn định hơn. DNXH đang ra sức giải quyết những vấn đề trong xã hội mà Nhà nước không làm xuể, giá trị mà các DNXH mang lại cho xã hội là rất lớn. Do đó, Nhà nước cần xem DNXH là người bạn đồng hành cùng với mình trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và xây dựng các chính sách tạo điều kiện để DNXH phát triển.

Nhìn chung, mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 phân công Chính phủ quy định cụ thể Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong đó có các chính sách ưu đãi, hỗ trợ dành cho DNXH, nhưng Nghị định số 96/2015/NĐ-CP chưa có các quy định cụ thể về vấn đề này. Điều này có thể được lý giải vì Nghị định số 96/2015/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn thi hành của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nên những vấn đề về ưu đãi dành cho DNXH cần được quy định ở pháp luật chuyên ngành (như pháp luật về đầu tư, thuế, giáo dục, y tế…), qua đó góp phần tạo nên sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.

DNXH theo pháp luật Việt Nam là một chủ thể đặc biệt, một doanh nghiệp hoạt động nhưng không vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư mà phần lớn lợi nhuận của DNXH được phục vụ cho cộng đồng. Như vậy, việc điều chỉnh pháp luật đối với DNXH cần xét đến các yếu tố đặc thù của mô hình này, để góp phần tạo nên “hệ sinh thái” tốt, tạo điều kiện cho DNXH phát triển như nhiều quốc gia trên thế giới.

Tài liệu tham khảo:
[1]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo số 798/BC-UBTVQH13 ngày 24/11/2014 về tiếp thu,chỉnh lý, giải trình dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), truy cập tại địa chỉ: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/ DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=753&TabIndex=2, 2014.
[2]. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Bùi Xuân Hải chủ biên, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 26.
[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại, tập 1, Nguyễn Viết Tý chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, 2016, tr. 29.
[4]. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, 2010, tr. 29.
[5]. Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 101.
[6]. Võ Sỹ Mạnh, Doanh nghiệp xã hội theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhìn từ góc độ quyền tự do kinh doanh, Hội thảo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014: Những đổi mới  nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr. 50.
[7]. Phan Thị Thanh Thủy, “Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 (279), 2015, tr. 26.
[8]. Philip Kotler và Nancy Lee, Corporate Social Responsibility Doing the Most Good for Your Company and Your Cause, 2005.
[9]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo số 761/BC-UBTVQH13 ngày 28/10/2014 về tiếp thu, chỉnh lý, giải trình Dự án Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), nguồn: http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/ View_Detail.aspx?ItemID=753&TabIndex=2.
[10]. Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh và Trần Thị Hồng Gấm, Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, 2012, tr. 10.
[11]. Phan Thị Thanh Thủy, “Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 (279), 2015, tr. 25-26.
[12]. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh Bùi Xuân Hải chủ biên, Nxb. Hồng Đức, 2016, tr. 31.
[13]. Phan Thị Thanh Thủy (2015), “Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 (279), tr. 25-26.
[14]. Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức, Phạm Kiều Oanh và Trần Thị Hồng Gấm, Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – Khái niệm, bối cảnh và chính sách, Hà Nội, 2012, tr. 53-60.
[15]. Nguyễn Thị Yến, “Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 11, 2015, tr. 73.


Thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay

ThS. Nguyễn Như ChínhKhoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội

Mặc dù ở Việt Nam trước đây đã có nền móng cho sự phát triển loại hình doanh nghiệp xã hội cũng như ưu điểm của nó đối với nền kinh tế – xã hội, cụ thể là đã từng có rất nhiều tổ chức sử dụng kinh doanh như một công cụ để đóng góp cho cộng đồng, đặc biệt là cho nhóm người yếu thế. Một nghiên cứu năm 2011 do Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng (CSIP) – Hội đồng Anh phối hợp cùng với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã cho thấy, ở Việt Nam có đến gần 200 tổ chức có đầy đủ đặc điểm để trở thành một doanh nghiệp xã hội, trong số đó, được hình thành sớm nhất là Hợp tác xã Nhân đạo thuộc Hội người khuyết tật Hà Nội, thành lập năm 1973. Tuy nhiên, cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp và Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội, thì doanh nghiệp xã hội mới được pháp luật ghi nhận và nhận diện một cách khá đầy đủ.

Tính đến thời điểm cuối năm 2016, số liệu do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố cho thấy, trong hơn 1 năm, số lượng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam đã tăng lên gấp đôi, từ khoảng 3.000 doanh nghiệp lên hơn 6.000 doanh nghiệp[1]. Một số doanh nghiệp xã hội tiêu biểu như Zó-Project, Trang trại Hữu cơ Tôi tự nhiên (I-Nature), Công ty Cổ phần Đầu tư Du lịch Phát triển Cộng đồng… Mặc dù đã có cơ sở pháp lý cho việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, song số lượng doanh nghiệp xã hội chưa nhiều, quy mô còn nhỏ và ảnh hưởng xã hội chưa lớn. Trong bài viết này, chúng tôi lựa chọn khảo sát một số doanh nghiệp xã hội hoạt động hiệu quả hiện nay ở Việt Nam, đánh giá thực trạng áp dụng của các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội trong thực tế, từ đó, nêu ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội.

1. Thực tiễn hoạt động của một số doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam

1.1. Doanh nghiệp xã hội hoạt động trong lĩnh vực y tế

Khảo sát đầu tiên là về nhóm các doanh nghiệp xã hội hoạt động trong lĩnh vực y tế. Trong những báo cáo về sự phát triển doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, đa phần doanh nghiệp lựa chọn hoạt động trong các phân ngành thuộc ngành công nghiệp sáng tạo hơn là trong lĩnh vực y tế. Vì phát triển kinh doanh trong lĩnh vực sáng tạo sẽ cung cấp được số lượng lớn công việc cho những người yếu thế trong xã hội, còn y tế là lĩnh vực mà cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp còn gặp khó khăn. Nhóm doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực y tế mà chúng tôi lựa chọn khảo sát bao gồm: Công ty Cổ phần Trí Đức, cung cấp dịch vụ xe cứu thương chất lượng cao tại Yên Bái; Công ty TNHH Chuyển giao Công nghệ và Dịch vụ Y tế (MTTS), sản xuất và cung cấp các thiết bị y tế dễ sử dụng với giá thành hợp lý phục vụ cho trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh.

Có nhiều lý do khác nhau khiến các sáng lập viên của hai doanh nghiệp trên hướng tới mục đích xã hội, trong đó có lý do quan trọng là họ muốn thành lập doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề xã hội còn tồn tại được xây dựng từ kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực y tế. Công ty MTTS quan tâm đến số lượng trẻ sơ sinh tử vong do thiếu các thiết bị y tế dễ sử dụng với chi phí hợp lý và tìm cách giải quyết vấn đề này. Người thành lập Công ty Cổ phần Trí Đức là một lái xe cứu thương ở bệnh viện tỉnh Yên Bái, nhiều lần chứng kiến việc chậm trễ đưa người bệnh đi cấp cứu nên đã không cứu được bệnh nhân. Điều này khiến anh trăn trở và quyết định thành lập Công ty Cổ phần Trí Đức mong muốn cung cấp dịch vụ giá rẻ để phục vụ các nhu cầu chưa đáp ứng được của bệnh viện công nơi vùng khó khăn di chuyển. Quy mô kinh doanh đều là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Công ty Cổ phần Trí Đức khởi sự với 1 xe cứu thương chuyên dụng, được Bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái tạo điều kiện cho mượn địa điểm trong bệnh viện và sau 6 năm phát triển, hiện nay công ty đã có 5 xe cứu thương chuyên dụng với thiết bị hiện đại. Người hưởng lợi của 2 doanh nghiệp trên bao gồm người nghèo, khó khăn, vùng sâu, vùng xa; trẻ nhỏ và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Sau hơn 6 năm hoạt động, số lượng ca vận chuyển của Công ty Cổ phần Trí Đức khoảng 10.000 ca, Công ty MTTS là khoảng 15.000 người. Những đối tượng khách hàng không có khả năng thanh toán hoặc thanh toán thấp được sử dụng dịch vụ với chi phí hợp lý hoặc miễn phí.

Công ty Cổ phần Trí Đức cung cấp dịch vụ giảm thiểu chi phí với giá thấp hơn giá trung bình từ 20 – 50% hoăc miễn phí. Bên cạnh đó, công ty cung cấp dịch vụ với mức giá thông thường cho nhóm khách hàng đủ khả năng thanh toán. Công ty vẫn hoạt động tốt nhờ đầu tư hiệu quả và “lấy công làm lãi”.

Không giống như Công ty Cổ phần Trí Đức, Công ty MTTS dùng lợi nhuận từ kinh doanh một dịch vụ khác để trợ giá cho dịch vụ xã hội. Công ty MTTS cung cấp các dụng cụ y tế chất lượng với giá cả chỉ bằng 1/8 các thiết bị tương đương, cho các bệnh viện nhi để giúp đỡ các trẻ sơ sinh. Để thực hiện được điều này, Công ty MTTS nhận thấy chi phí hoạt động cao là vấn đề thực sự với các thiết bị y tế ở các nước đang phát triển, và các chi phí này thường dồn lên vai của những bệnh nhân không có khả năng chi trả. Do đó, Công ty MTTS đã dùng các cách khác nhau để giảm chi phí sản xuất mà vẫn khiến các thiết bị y tế dễ sử dụng và bền bỉ: Chỉ thuê nhân công trong nước, các chuyên gia tình nguyện viên nước ngoài thì làm việc miễn phí, xin trợ cấp phát triển công nghệ cho R&D và thỉnh thoảng là chi phí trang bị máy móc. Quá trình mở đầu luôn là thời điểm khó khăn nhất. Nguồn vốn ban đầu để mở Công ty Công nghệ Sinh học MTTS chỉ là vài nghìn USD. Thêm vào đó, năm 2004, do gần như không có quy định của Chính phủ nên chính Công ty MTTS và các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương đã phải tự xây dựng các quy định an toàn. Tại thời điểm đó, do Việt Nam không có thị trường cho các thiết bị y tế nên toàn bộ lĩnh vực này phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài. Công ty MTTS đã phải dành ra nhiều thời gian để gây quỹ và thuyết phục mọi người rằng hướng đi của Công ty MTTS đáng để đầu tư.

Hiệu quả hoạt động và sáng tạo từ mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực y tế kể trên là hết sức quan trọng, có thể được vận dụng cho các mô hình sau này. Quan hệ giữa Công ty Cổ phần Trí Đức và bệnh viện công trong việc tổ chức và thanh toán cho dịch vụ vận chuyển cứu thương là một sáng tạo, không những giúp các bệnh viện hoàn thành được nhiệm vụ của mình với nguồn lực hạn chế mà còn giải quyết được các nhu cầu của người dân địa phương về dịch vụ an toàn, tin cậy. Còn đối với Công ty MTTS, từ công nghệ phát triển của các tập đoàn thiết bị tư bản giá cao, Công ty MTTS đã cải tiến thiết kế và sản xuất, tận dụng các vật liệu thay thế trong nước để giảm thiểu chi phí. Sáng tạo trong thiết kế các thiết bị y tế hiệu quả với giá thành thấp. Những điều đó đã giúp các thiết bị y tế của Công ty MTTS giảm trung bình 50% giá thành, đặc biệt có thiết bị chỉ bằng 1/8 so với thiết bị cùng loại.

1.2. Doanh nghiệp xã hội hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

Nông nghiệp là lĩnh vực tập trung số lượng lớn lao động là nông dân với thu nhập trung bình và thấp. Hiện nay, Ngành Nông nghiệp ở Việt Nam còn gặp rất nhiều thách thức trong đó đặc biệt là môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm ngoài ra là cạnh tranh giá với sản phẩm nhập khẩu. Các doanh nghiệp xã hội đã có một số đóng góp tích cực để giải quyết vấn đề trên, doanh nghiệp xã hội mà chúng tôi khảo sát là Công ty cổ phần nông nghiệp hữu cơ Tôi tự nhiên “I – Nature”

I – Nature là Tôi – Tự nhiên, là tự sinh, tự dưỡng như cỏ cây, hoa lá trong thế giới hoang dã. Tuyệt đối không có sự tác động hay can thiệp của bất cứ loại hóa chất nào. Còn những chủ nhân của I – Nature đều là những người trẻ, được đào tạo bài bản cả trong nước và nước ngoài, và I – Nature là mơ ước mở hướng đi mới cho nông dân của họ. Công ty I – Nature ứng dụng mô hình tuần hoàn vật chất khép kín trong tự nhiên giúp tuần hoàn được chu trình vật chất trong các trang trại, tái sử dụng chất thải trong nông nghiệp làm tăng sự linh hoạt, giảm rủi ro, tăng khả năng chịu đựng của các trang trại trước sự biến động mạnh của thời tiết và biến đổi khí hậu toàn cầu, cho phép tái sử dụng hiệu quả chất thải trong nông nghiệp, làm giảm thải khí nhà kính, cải tạo môi trường đất, nước, không khí, góp phần bảo vệ môi trường, hiện nay công ty đang cung cấp 45 loại rau củ quả và 8 loại thịt, trứng sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (thịt lợn, ngan, gà với các giống khác nhau). Như vậy, hai vấn đề xã hội chính được giải quyết đó là: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và vấn đề bảo vệ môi trường, ngoài ra, công ty còn giải quyết vấn đề việc làm cho người dân địa phương bằng cách đảm bảo đầu ra tiêu thụ sản phẩm, hỗ trở chuyển giao công nghệ và tư vấn kỹ thuật cho bà con ở trang trại[2].

Từ đầu năm 2012, các thành viên của I – Nature đã triển khai thí điểm mô hình nông nghiệp không chất thải tại thị trấn Xuân Mai (Chương Mỹ, Hà Nội) và đã đạt được những kết quả khả thi. Sau đó, cuối năm 2012, việc quy hoạch và xây dựng trại lõi tại Tản Lĩnh, Ba Vì trên diện tích 5000 m2 đã được I – Nature triển khai và đến đầu năm 2013, những sản phẩm hữu cơ đầu tiên đã đến được với người tiêu dùng tại Viện Công nghệ Châu Á Việt Nam (AIT-VN) và Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam (VNCPC) với quy mô cung cấp chỉ khoảng 20 hộ gia đình, tần suất 1 tuần/lần với các sản phẩm rau ăn lá, gia vị, củ quả, thịt lợn, gà, ngan và trứng.

Tiếp đó, I – Nature dần mở rộng quy mô với những trang trại vệ tinh với hình thức chuyển giao công nghệ cho các hộ nông dân trong vùng nhưng dưới sự giám sát chặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật của I – Nature. Việc giám sát đánh giá định kỳ được thực hiện bởi các cán bộ có chuyên môn và lấy mẫu sản phẩm để kiểm tra. Việc xử lý vi phạm cũng được thực hiện theo chế tài để ngăn chặn những hoạt động sản xuất sai quy chuẩn. Các sản phẩm của các trang trại được xử lý, sơ chế, đóng gói tại trại và sau đó được vận chuyển về điểm phân phối tại trung tâm Hà Nội. Tại đây, mỗi đơn hàng của mỗi khách hàng được đóng gói và vận chuyển tới điểm đăng ký nhận hàng. Các nông phẩm hữu cơ của I – Nature có giá bán cao hơn hẳn các loại thực phẩm sạch được quảng cáo trên thị trường do tính khắt khe, ngặt nghèo về quy trình sản xuất và sơ chế sản phẩm. Từ tháng 10/2013, đưa sản phẩm cung cấp vào cửa hàng trưng bày sản phẩm Hàng Xanh (không gian giới thiệu và trưng bày các sản phẩm bền vững thuộc dự án SPIN) tại số 45 Bát Sứ (Hà Nội). Khách hàng hoàn toàn có thể trực tiếp tham quan, trải nghiệm tại trang trại lõi của I – Nature. Mô hình sản xuất rau hữu cơ tại I – Nature đã xây dựng nên khu chuyên canh rau sạch, chất lượng, đồng thời giúp cải thiện môi trường đất, nước, môi trường làm việc của chính người nông dân. Sản xuất thực phẩm hữu cơ đòi hỏi thực hiện trong một hệ sinh thái bảo đảm, không được gần các nhà máy công nghiệp, không gần quốc lộ, tại vùng đất nền và nguồn nước có dư lượng kim loại và các chất độc tự nhiên thấp. Nguồn nước tưới và chăn nuôi phải là nước giếng sạch, không phải nước sông. Không dùng công nghệ biến đổi gien và kể cả công nghệ nano… Cho tới nay, I – Nature là đơn vị duy nhất ở Việt Nam được cấp chứng nhận là sản phẩm bền vững theo các tiêu chí của Hệ thống Đánh giá bền vững của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO). Trong quá trình canh tác, hoàn toàn không sử dụng bất kỳ loại chế phẩm hóa học nào để phun tưới lên rau. Thay vào đó, để phòng trừ sâu bệnh gây hại, dùng tỏi, gừng giã nhuyễn và đem trộn với rượu rồi phun lên rau hoặc dùng phương pháp dẫn dụ bắt thủ công. Trong suốt quá trình sinh trưởng, người trồng chỉ bón duy nhất loại phân hữu cơ đã được ủ hoai mục từ trước đó 3 tháng. Sau khi bón phân, đúng thời gian cho phép, người dân mới được thu hoạch rau. Toàn bộ nước tưới rau đều được xét nghiệm bảo đảm đủ tiêu chuẩn, không bị nhiễm hóa chất độc hại và kim loại nặng.

Sau khi có quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, tháng 6/2016, Công ty Cổ phần Công nghệ Nông nghiệp hữu cơ I – Nature được đăng ký đi vào hoạt động, mang lại nguồn sinh kế ổn định, bền vững cho những người nông dân. Tạo được thêm việc làm và gia tăng thu nhập cho lao động địa phương. Ước tính khoảng 20 nhân công toàn thời gian và 10 nhân công bán thời gian xét riêng cho hệ thống của I – Nature. Nếu tính thêm các trang trại dự kiến chuyển giao sẽ có thêm khoảng 50 việc làm địa phương nữa được tạo ra. Trong đó lao động nữ chiếm ít nhất 50%. Mức thu nhập ước đạt cao hơn ít nhất 30% so với sản xuất nông nghiệp theo phương thức vô cơ. Hiện tại, sản phẩm I – Nature đang có mức giá thấp hơn khoảng 30% so với thực phẩm hữu cơ khác nên có sức hấp dẫn với người mua hàng. Đặc biệt, khi mô hình trại lõi mới với quy mô lớn cho phép tối ưu hóa và khép kín hoàn toàn thì mức giá sẽ còn tiếp tục giảm, ví dụ với rau sẽ ngang bằng với rau thông thường. Hơn nữa, người mua hàng có thể giám sát và kiểm tra trực tiếp quá trình sản xuất tại đây thông qua hệ thống camera thời gian thực nên sẽ tạo dựng được sự tin tưởng cho họ.

1.3. Doanh nghiệp xã hội hướng tới đối tượng yếu thế trong xã hội

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, nhóm người yếu thế trong xã hội bao gồm người nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật. Gần 80% lao động yếu thế chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Đa số có trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề. Đây là cả một gánh nặng rất lớn về an sinh xã hội, là áp lực ngày càng gia tăng về tạo việc làm, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, giảm hộ nghèo, đảm bảo những người thiệt thòi, yếu thế có điều kiện vươn lên, hòa nhập cộng đồng. Chừng nào chưa giải quyết đến nơi đến chốn hàng loạt vấn đề nổi cộm trên, không chỉ an sinh xã hội bấp bênh mà an ninh, trật tự xã hội cũng trở nên bất an, bất ổn.

Trong những doanh nghiệp xã hội hướng tới nhóm đối tượng này, chúng tôi lựa chọn khảo sát công ty TNHH KOTO, đào tạo nghề cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Công ty TNHH KOTO International thành lập năm 1999, KOTO (viết tắt từ Know One, Teach One) là doanh nghiệp xã hội hướng tới việc đào tạo nghề cho những thanh thiếu niên đường phố và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Việt Nam. Đây là một trong số những doanh nghiệp xã hội đầu tiên được hình thành ở Việt Nam, cũng là doanh nghiệp xã hội đầu tiên đăng ký thành công theo hệ thống đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 và là doanh nghiệp xã hội có quy mô lớn nhất ở nước ta[3]. Hiện nay, doanh thu của KOTO đến từ việc kinh doanh 2 nhà hàng ở Hà Nội và TP.HCM và cung cấp dịch vụ ăn uống. Tiền lợi nhuận của mảng kinh doanh này được dùng hoàn toàn vào công việc đào tạo nghề, cung cấp chỗ ăn nghỉ miễn phí cho các học viên. Người sáng lập kiêm giám đốc KOTO là anh Jimmy Phạm – Việt kiều Úc[4]. Doanh nghiệp xã hội này hoạt động dưới mô hình một nhà hàng kinh doanh và trung tâm dạy nghề với phương châm làm thay đổi cuộc sống của những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam.

KOTO có trung tâm dạy nghề KOTO là trung tâm phi lợi nhuận (NGO) được thành lập để hỗ trợ dạy nghề cho trẻ em lang thang và trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Trong 24 tháng, học viên sẽ được học các kỹ năng để phục vụ trong lĩnh vực nhà hàng – khách sạn (bếp, phục vụ bàn – bar), tiếng Anh chuyên ngành và các kỹ năng sống. Ngoài ra, các em cũng được kiểm tra sức khỏe định kỳ, được tiêm chủng, được cung cấp đồng phục, giặt giũ, ăn trưa, nhà ở, dịch vụ y tế và tiền trợ cấp huấn luyện hàng tháng. Cho đến nay, KOTO đã đào tạo tốt nghiệp có bằng đạt gần 500 em. Rất nhiều học viên sau khi tốt nghiệp từ KOTO đang làm việc tại các khách sạn, nhà hàng nổi tiếng của Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều thành phố lớn khác ở Úc và Dubai như: Sheraton, Sofitel Metropole, Sofitel Plaza, Hilton, Movenpick, Horizon… Đây thực sự là niềm vui trong mơ của nhiều thanh thiếu niên vốn xuất thân là những trẻ em sống trên đường phố hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… Nguyễn Thị Thảo, học viên khóa 1 của KOTO Hà Nội là một ví dụ. Trước khi trở thành học viên của KOTO, Thảo khi ấy 13 tuổi làm công việc bán bưu thiếp trên đường phố 12 giờ/ngày để kiếm sống nhưng vẫn không đủ tiền cho các bữa ăn và những chi tiêu căn bản nhất của cuộc sống, chưa kể những hiểm nguy luôn rình rập xung quanh… Năm 2001, Thảo may mắn trở thành một thành viên của KOTO. Đã từng được nhận làm việc tại Sofitel Metropole Hà Nội rồi sau đó Thảo quyết định về nhà hàng KOTO Văn Miếu để truyền lại những kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn từ bên ngoài cho các học viên mới… Với sự nỗ lực của mình, năm 2007, Thảo được bình chọn là Đại sứ thiện chí KOTO và năm 2009, em được đến Melbourne để tham gia khóa học Cử nhân Quản trị Du lịch Khách sạn tại Học viện Box Hill. Hiện tại, bên cạnh việc học tập, Thảo còn làm việc ở Sofitel Melbourne để học hỏi và nâng cao các kỹ năng, nghiệp vụ của mình.

Nhà hàng KOTO là nhà hàng đào tạo (training restaurant), tại đó các em được thực hành nghề trong một môi trường kinh doanh thực sự. Hiện tại, hơn một nửa chi phí hoạt động của KOTO đã được tài trợ từ lợi nhuận của nhà hàng. Phục vụ mục tiêu xã hội của KOTO, tuy nhiên, nhà hàng KOTO vẫn phải cạnh tranh bình đẳng với các nhà hàng khác cùng dãy phố, thậm chí nộp thuế nhiều hơn, bởi việc quản lý sổ sách kế toán của tổ chức phải minh bạch và công khai  trước yêu cầu của nhà tài trợ. Tất cả hoạt động liên quan đến tài chính của KOTO được giám sát thông qua Công ty kiểm toán quốc tế KPMG và Công ty TNHH Dịch vụ tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán.

2. Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

2.1. Những thuận lợi

Hoạt động vì mục đích xã hội, cho nên, những người sáng lập doanh nghiệp xã hội, ban lãnh đạo, quản lý hoặc những tình nguyện viên đều là những con người tâm huyết với mục đích đã lựa chọn. Họ có thể khắc phục được mọi khó khăn từ tài chính tới thiếu vắng các quy định pháp luật để hoạt động. Từ đó, các doanh nghiệp xã hội đã có những nền tảng, lịch sử phát triển và hoạt động lâu dài, kể cả trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực. Ưu thế của doanh nghiệp xã hội so với những doanh nghiệp khác đó chính là việc Nhà nước tạo hành lang pháp lý để mô hình doanh nghiệp này được ưu đãi về tài chính, tiếp nhận tài trợ. Các doanh nghiệp xã hội nói chung có thể tiếp nhận viện trợ phi Chính phủ nước ngoài theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi Chính phủ nước ngoài. Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội được tiếp nhận tài trợ từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Đó chính là nguồn lực quan trọng để các doanh nghiệp xã hội có thể thực hiện được mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký. Các doanh nghiệp xã hội mới thường áp dụng tốt sự phát triển khoa học kỹ thuật như I – Nature hoặc MTTS, do đó sản phẩm làm ra có giá cả cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại. Ngoài ra là sự phát triển và ứng dụng của “kinh tế chia sẻ” đã huy động được số lượng lớn cộng đồng quan tâm tới các dự án của những doanh nghiệp xã hội mới này.

2.2. Một số khó khăn

– Phải hoạt động theo mô hình doanh nghiệp: Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội phải là doanh nghiệp, được đăng ký, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đây là một quy định hết sức khiên cưỡng, không phù hợp với thông lệ quốc tế về mô hình doanh nghiệp xã hội. Quy định như trên đã loại bỏ một số mô hình hết sức phù hợp với các mục đích xã hội, môi trường, đó là hợp tác xã. Ở Việt Nam các hợp tác xã không được coi là doanh nghiệp, mà chỉ được coi là “tổ chức kinh tế tập thể” hình thành trên cơ sở “sở hữu tập thể”. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội không được thành lập dưới hình thức hợp tác xã. Quy định này đã bỏ qua các đặc tính ưu việt rất phù hợp với các mục tiêu xã hội của các hợp tác xã đó là tính chất sở hữu tập thể, tinh thần cộng đồng. Trên thực tế, từ trước năm 1986 nhiều doanh nghiệp xã hội thực tế đã tồn tại ở nước ta dưới hình thức hợp tác xã như “hợp tác xã thương binh”, “hợp tác xã người tàn tật”…các cơ sở này có những đóng góp đáng kể trong việc tạo công ăn việc làm và cuộc sống tích cực cho cho các xã viên là những nhóm người dễ bị tổn thương, khó hòa nhập trong xã hội. Bởi vậy, các hợp tác xã chính là một mô hình rất phù hợp cho các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.

– Quy định việc sử dụng ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư: Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động luôn phải sử dụng tối thiếu 51% tổng lợi nhuận hàng năm để nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. Tuy nhiên, trong thực tế, những năm đầu tiên khi thành lập, hoạt động, nhà đầu tư phải bỏ nhiều vốn đầu tư, cũng như chưa thể huy động tài trợ từ các nguồn lực khác, việc khởi sự kinh doanh còn nhiều khó khăn. Do đó, ngay từ đầu, lợi nhuận đã bắt buộc phải chia sẻ thì dẫn đến khó khăn cho sự phát triển của doanh nghiệp xã hội trong những năm đầu thành lập.

– Chưa quy định cụ thể về chuyển đổi trực tiếp từ doanh nghiệp thông thường sang doanh nghiệp xã hội: Mặc dù tại điểm a, khoản 2, Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong Nghị định số 96/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Thông tư 04/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn về biểu mẫu đối với đăng ký doanh nghiệp xã hội đều chưa quy định cụ thể hồ sơ thủ tục chuyển đổi giữa 2 mô hình này. Các văn bản hướng dẫn kể trên mới chỉ quy định cụ thể việc chuyển đổi cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện thành doanh nghiệp xã hội.

– Về cơ quan quản lý doanh nghiệp xã hội: Hiện tại, các doanh nghiệp xã hội được thành lập, quản lý bởi cơ quan đăng ký doanh nghiệp như các doanh nghiệp thông thường khác. Mọi thủ tục hành chính đều được giải chung như các doanh nghiệp thông thường, tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội lại có những đặc thù riêng, đặc biệt như tiếp nhận tài trợ, thực hiện các mục tiêu xã hội, môi trường… Do đó, việc quản lý chung bởi cùng 1 cơ quan có thể sẽ gây khó khăn.

3. Một số kiến nghị về hoàn thiện các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần đa dạng hóa loại hình doanh nghiệp xã hội. Như phân tích ở trên, quy định doanh nghiệp xã hội phải tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp còn cứng nhắc, chưa phù hợp với một thực tế là Việt Nam là kinh tế thị trường còn non trẻ, rất cần sự đóng góp của các doanh nhân xã hội đến từ nhiều lĩnh vực và quy mô hoạt động khác nhau, để cùng tham gia chia sẻ gánh nặng an sinh xã hội với Nhà nước. Những quy định hiện tại chưa thực sự thúc đẩy quyền tự do kinh doanh và tự do lựa chọn mô hình kinh doanh các doanh nhân xã hội đang hoạt động dưới nhiều quy mô và lĩnh vực kinh doanh khác nhau, hạn chế khả năng tiếp cận nhu cầu của các cộng đồng thiệt thòi, đối tượng hướng tới của doanh nghiệp xã hội. Thêm nữa, gò bó doanh nghiệp xã hội dưới hình thức doanh nghiệp cũng sẽ làm hạn chế các sáng kiến xã hội, giảm tính đa dạng về sở hữu, tính linh hoạt của doanh nghiệp xã hội. Cần công nhận các công nhận các hợp tác xã thành lập có cam kết mục tiêu xã hội là các hợp tác xã doanh nghiệp xã hội để các hợp tác xã này có cơ sở pháp lý để hoạt động và được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, cần xây dựng hệ thống cơ quan chuyên trách quản lý doanh nghiệp xã hội. Ở nước Anh, để đưa các quy định pháp luật về doanh nghiệp xã hội vào thực tế, Chính phủ Anh đã nỗ lực tiến hành những hoạt động trợ giúp cho doanh nghiệp xã hội thông qua hệ thống các cơ quan hỗ trợ từ khâu đăng ký kinh doanh, tư vấn pháp lý thành lập doanh nghiệp xã hội, hỗ trợ thông tin về thuế, cho đến các chiến dịch truyền thông, quảng bá để cả xã hội biết và ủng hộ cho doanh nghiệp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Năm 2002, chính phủ Anh thành lập Bộ phận Doanh nghiệp xã hội (Social Enterprises Unit – SEnU) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp, bộ phận này hoạt động để xây dựng các chính sách phát triển doanh nghiệp xã hội. Ở Hàn Quốc cũng đã thiết lập KoSEA do Bộ trưởng Lao động và Việc làm thành lập để thực thi việc khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp xã hội. Singapore cũng thành lập Phòng doanh nghiệp xã hội, bộ phận này nhận sự hỗ trợ từ chính phủ, khu vực tư nhân, giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự để tìm hướng phát triển doanh nghiệp xã hội. Như vậy, Việt Nam cũng nên thành lập bộ phận riêng quản lý doanh nghiệp xã hội thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc độc lập sẽ thúc đẩy sự phát triển cũng như quản lý nhà nước tốt hơn đối với doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam.

Thứ ba, về lâu dài, cần xây dựng một khung khổ pháp lý đồng bộ điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp xã hội, trong đó cần có một đạo luật riêng quy định về doanh nghiệp xã hội làm trung tâm như đã đề xuất. Luật này quy định về các hình thức pháp lý đa dạng, các điều kiện thành lập, hoạt động  chuyển đổi các  mô hình  kinh doanh khác thành doanh nghiệp xã hội để tạo ra một sự kết nối chặt chẽ, khuyến khích doanh nghiệp xã hội thành lập và phát triển.

Kết luận

Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, ra đời vì mục tiêu và sứ mệnh cộng đồng, doanh nghiệp xã hội cần có một khung khổ pháp lý đồng bộ và phù hợp với thực tiễn xã hội để động viên các chủ thể kinh doanh cùng tham gia chia sẻ gánh nặng an sinh xã hội với Nhà nước. Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù mới tạo ra nền tảng cơ bản về địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên đó mới là những cố gắng bước đầu của Nhà nước đối với những mô hình vì xã hội và cộng đồng này, việc hoàn thiện pháp luật là yêu cầu nhất thiết để thực hiện những mong muốn vô cùng tốt đẹp của các sáng lập viên doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1. http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/so-luong-doanh-nghiep-xa-hoi-tang-dot-bien-173431.html;

2. CSIP Social enterprises 2014 – sources: http://csip.vn/vi/social-enterprises-2014;

3. https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/xa-hoi/ky-nang-cho-doanh-nhan-xa-hoi/dai-dien-dnxh-vn-tai-SEWF-2016;

4. http://www.hmongbuy.com/SU1ZMFBIcGNXaUUz;

5. Phan Thị Thanh Thủy, Hình thức pháp lý của doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Luật học, Tập 31, Sô ́ 4 (2015).


[1] http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/so-luong-doanh-nghiep-xa-hoi-tang-dot-bien-173431.html

[2] CSIP Social enterprises 2014 – sources: http://csip.vn/vi/social-enterprises-2014

[3] https://www.britishcouncil.vn/cac-chuong-trinh/xa-hoi/ky-nang-cho-doanh-nhan-xa-hoi/dai-dien-dnxh-vn-tai-SEWF-2016

[4] http://www.hmongbuy.com/SU1ZMFBIcGNXaUUz

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s