67. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Chúng tôi tập hợp và giới thiệu với bạn đọc những bài viết bằng tiếng Việt về chủ đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Pháp nhân có th là ch th ca ti phm hay không?

T.S Phạm Hồng Hải

Theo : Tạp chí Luật học số 06/1999

1. Câu hỏi pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không từ trước tới nay vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu khoa học pháp lí không những ở nước ta mà còn ở những nước khác trên thế giới trong đó có cả các quốc gia mà ở đó pháp luật hình sự hiện hành đã coi pháp nhân như một trong những chủ thể của tội phạm. ở nước ta, từ trước tới nay, pháp luật hình sự luôn luôn không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Ngay trong khoa học hầu như cũng không ai đặt vấn đề có nên hay không nên coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Trong mấy năm gần đây, vấn đề pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không được bàn nhiều đến bởi một số lí do sau đây: Thứ nhất, vừa qua Nhà nước đã tiến hành sửa đổi cơ bản Bộ luật hình sự nên việc nghiên cứu, đánh giá lại tất cả các chế định của luật hình sự trong đó có chế định về chủ thể của tội phạm đã được các nhà khoa học quan tâm và mặc dù trong Bộ luật hình sự (BLHS) sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua đầu tháng 12/1999 pháp nhân vẫn chưa được coi là chủ thể của tội phạm; thứ hai, trong những năm gần đây sự giao lưu của nước ta với các nước trong khu vực trên tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực khoa học pháp lí hình sự ngày càng được mở rộng và điều này đặt ra cho những nhà khoa học pháp lí vấn đề nên, chưa nên hoặc không nên học tập kinh nghiệm trong lĩnh vực lập pháp của các quốc gia khác; thứ ba, trong thời gian qua nhiều trung tâm thông tin đã sưu tầm tài liệu, đặc biệt đã biên dịch nhiều văn bản pháp luật hình sự của nước ngoài để cho Ban soạn thảo BLHS, các cơ quan giúp việc của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và nhân dân tham khảo khi đóng góp ý kiến xây dựng BLHS và điều này đã gây không ít tranh luận trong giới khoa học cũng như các cán bộ làm công tác thực tiễn về chế định chủ thể tội phạm. Giờ đây, pháp nhân có thể được coi là chủ thể của tội phạm không đã và luôn là câu hỏi nghiêm túc trước những người làm công tác nghiên cứu khoa học pháp lí hình sự và nó cũng cần có câu trả lời nghiêm túc và khoa học.

2. Vi phạm pháp luật là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp và tính lịch sử. Tội phạm là một trong các loại vi phạm pháp luật nên nó cũng có những tính chất như vậy. Việc quy định hành vi nào là tội phạm, ai là chủ thể của tội phạm (người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm có thể bị xử lí về hình sự) phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị xã hội (đây cũng là một trong những biểu hiện tính giai cấp của tội phạm). Tuy nhiên, trong mọi lĩnh vực, ý chí của giai cấp thống trị không phải là bất biến mà ngược lại, nó cũng thay đổi theo tiến trình phát triển của xã hội. Vào thời kì này, Nhà nước coi những hành vi này là tội phạm, những người này là chủ thể của tội phạm nhưng vào thời kì khác do những điều kiện lịch sử cụ thể chi phối, Nhà nước có thể thay đổi những quy định của mình về tội phạm. Đây chính là biểu hiện của tính lịch sử của tội phạm.

Xuất phát từ tính giai cấp và tính lịch sử của tội phạm nên việc quốc gia nào đó có sự thay đổi chính sách hình sự của mình trong đó có sự thay đổi về quan niệm cũng như các quy định về chủ thể tội phạm cũng là điều dễ hiểu, cũng chính vì thế không thể vội vàng nhận xét luật hình sự của nước này không khoa học khi nó quy định hay không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Trong trường hợp này, điều cần đánh giá là vào thời điểm nào đó khi luật hình sự quy định hay không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm có phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể hay không?

3. Ở nước ta, luật hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất. Nhìn lại lịch sử của nước Việt Nam từ thời kì có pháp luật thành văn đến nay, pháp luật hình sự vẫn đứng vị trí đầu tiên cả về thời điểm xuất hiện cũng như số lượng các văn bản. ở mỗi thời kì khác nhau, do những đặc điểm về địa lí, chính trị, xã hội nên pháp luật hình sự nước ta ít nhiều bị ảnh hưởng bởi pháp luật hình sự của nước ngoài. Trong thời gian hơn nửa thế kỉ qua, pháp luật hình sự của nước ta đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi pháp luật hình sự của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô (cũ). Và cũng như ở các quốc gia đó, pháp luật hình sự của nước ta chưa bao giờ coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Bộ luật hình sự mới nhất của Liên bang Nga được Đuma quốc gia thông qua ngày 24/5/1996 cũng không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Điều 19 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996 quy định: “Trách nhiệm hình sự chỉ thuộc về thể nhân có đủ năng lực trách nhiệm đạt tới độ tuổi do Bộ luật này quy định“. ở các nước XHCN Đông Âu trước đây pháp luật hình sự cũng không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Lập luận cho điều này, các nhà khoa học pháp lí hình sự đều căn cứ vào nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và tính mục đích của hình phạt. Pháp nhân là tập thể của những con người cụ thể và hành vi vi phạm của pháp nhân được thực hiện bởi hành vi của những con người cụ thể nên pháp nhân không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chịu trách nhiệm hình sự chính là những người (thể nhân) cụ thể đã thực hiện các hành vi vi phạm. Một trong những mục đích của hình phạt là giáo dục, cải tạo và hình phạt sẽ không có tác dụng nếu nó được áp dụng với pháp nhân mà không được áp dụng với con người cụ thể.

Nghiên cứu những tài liệu hiện có ở Việt Nam, chúng tôi thấy rằng, trên thế giới hiện đã có một số nước mà ở đó pháp luật hình sự quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Điều 2.07 BLHS mẫu của Mĩ quy định trừ các công ti và hiệp hội được thành lập với tư cách là cơ quan của Nhà nước hoặc do Nhà nước thành lập nhằm thực hiện các chương trình của Nhà nước còn các công ti và hiệp hội khác đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm. Pháp nhân bao gồm các công ti và hiệp hội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi không thực hiện những nghĩa vụ, nhiệm vụ mà luật quy định pháp nhân phải thực hiện; ban lãnh đạo hoặc một đại diện của pháp nhân thiếu thận trọng trong hành vi của mình nhân danh pháp nhân dẫn tới phạm tội.

Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp 1994 tại Điều 121.2 có quy định trừ Nhà nước, các pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp quy định trong luật về các tội phạm được thực hiện vì lợi ích của họ bởi các cơ quan, đại diện của họ. Các pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm được thực hiện khi đã có thoả thuận về sự ủy quyền công vụ để thi hành các hoạt động của pháp nhân. Luật hình sự của Cộng hòa Pháp phân chia tội phạm thành ba loại: Trọng tội, khinh tội và tội vi cảnh nên khi pháp nhân phạm tội loại nào thì sẽ có hình phạt tương ứng, phù hợp với loại tội đó.

Ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trước đây, pháp luật hình sự cũng không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự mới nhất được thông qua tháng 3 năm 1997 đã có các quy định pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm. Tiết 4 chương III BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với tên gọi “Tội phạm có chủ thể là các cơ quan, đơn vị và tổ chức” có hai điều luật quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Điều 30 quy định: “Công ti, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho x1 hội thì cũng bị coi là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự“; Điều 31 quy định: “Công ti, xí nghiệp, cơ quan tổ chức, đoàn thể phạm tội sẽ bị phạt tiền; Người phụ trách và những người có trách nhiệm trực tiếp khác của đơn vị cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Phần riêng của Bộ luật này và những luật khác có những quy định liên quan đều phải dựa trên quy định này“.

Qua thực tế thì thấy rằng, quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm đã có từ lâu và hiện nay nó đã được chính thức thừa nhận ở một số quốc gia trong đó có cả những quốc gia từ trước tới nay không những không thừa nhận mà còn thậm chí còn phê phán. Những quốc gia có pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm là những quốc gia có nền kinh tế phát triển hoặc đang phát triển. Cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được giải thích rằng, ở các quốc gia này những vụ phạm tội với thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa pháp nhân không còn là cá biệt và đã trở thành tương đối phổ biến; mặc dù không phải là con người cụ thể (thể nhân) nhưng có thể coi pháp nhân như một “con người pháp lí” cũng có năng lực tương tự như những thể nhân; bản thân pháp nhân cũng có khả năng chịu một số hình phạt nhất định của Nhà nước như phạt tiền, giải thể, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ lĩnh vực hoạt động nào đó…

Mặc dù là thực thể trừu tượng nhưng pháp nhân được con người lập ra và hoạt động của nó (hành vi khách quan) chỉ có thể thực hiện được thông qua những con người cụ thể. Những con người đó hoặc là chỉ huy, lãnh đạo hoặc là đại diện của pháp nhân. Khi những người này thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ được coi là ý chí và hành vi của pháp nhân. Trong điều kiện hiện nay, các hoạt động của xã hội về cơ bản là các hoạt động mang tính kinh tế do các cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện. Các vi phạm và tội phạm kinh tế hoặc là do cá nhân hoặc do pháp nhân thực hiện, vì vậy, nếu pháp nhân không được coi là chủ thể của tội phạm tức là mọi hành vi, việc làm của pháp nhân cho dù có nguy hiểm cho xã hội đến đâu cũng không được coi là tội phạm và không bị xử lí bằng các biện pháp nghiêm khắc nhất là hình phạt thì Nhà nước sẽ không kiểm soát được các hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân và đặc biệt là đã không sử dụng biện pháp hữu hiệu là biện pháp hình sự để chống lại các vi phạm và phục hồi lại các quan hệ xã hội đã bị xâm hại. Cũng như đối với thể nhân, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân và áp dụng hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của pháp nhân vừa có ý nghĩa chống và vừa có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm. Trong trường hợp người đại diện cho pháp nhân thực hiện hành vi được coi là tội phạm, nếu pháp luật chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự với người đó mà không truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân trong khi chính pháp nhân lại được hưởng nhiều lợi ích mang lại từ hành vi phạm tội thì có nghĩa pháp luật đã bỏ lọt tội phạm và đây rõ ràng như kích thích tố khuyến khích những hành vi sai trái của pháp nhân. ở tất cả quốc gia mà pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm thì đồng thời pháp luật hình sự cũng có hệ thống hình phạt riêng áp dụng cho pháp nhân phạm tội. Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng, những hành vi phạm tội của pháp nhân thường xảy ra trong các hoạt động kinh tế với mục đích kiếm được lợi nhuận nhiều hơn và vì vậy, hình phạt tiền với số lượng lớn hoặc những hình phạt hạn chế quyền tự do kinh doanh của pháp nhân được coi là những hình phạt có tác dụng giáo dục và phòng ngừa hơn cả.

4. So với một số quốc gia khác mà ở đó pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm thì nhịp độ phát triển kinh tế của nước ta chưa cao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trong số các tội phạm kinh tế có không ít các tội phạm do pháp nhân thực hiện. Báo cáo của ngành thuế hàng năm cho thấy, mỗi năm Nhà nước thất thu hàng nghìn tỉ đồng tiền thuế mà nguyên nhân của tình trạng này là do các cơ sở sản xuất kinh doanh cả của quốc doanh và ngoài quốc doanh trốn thuế. Báo cáo của ngành quản lí thị trường cũng chỉ ra tình trạng kinh doanh trái phép, làm và buôn bán hàng giả, lưu hành sản phẩm kém phẩm chất, vi phạm các quy định về quảng cáo v.v. đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Mặc dù vậy, việc xử lí về hình sự các hành vi vi phạm kể trên rất khó vì luật hình sự nước ta không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Trong thực tiễn, đã có không ít vụ trốn thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần, tổ sản xuất tư nhân…) bị đưa ra giải quyết bằng tố tụng hình sự và trong những trường hợp này cá nhân bị truy tố là giám đốc hoặc phó giám đốc. Các vụ trốn thuế ở các cơ sở kinh tế quốc doanh không được giải quyết bằng kênh tố tụng hình sự và thậm chí cả kênh hành chính đang bị xã hội lên án. Có lẽ chính vì Nhà nước không sử dụng biện pháp cứng rắn là biện pháp hình sự để xử lí các vi phạm kiểu trên của pháp nhân nên tình trạng dây dưa nợ đọng thuế của các doanh nghiệp với số lượng ngày càng tăng và tới một số lượng nào đó đẩy doanh nghiệp tới bờ phá sản thì để cứu doanh nghiệp, Nhà nước lại phải dùng biện pháp “đậy nợ” và đây chính là những gánh nặng cho ngân sách nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm cho Nhà nước không thực hiện được một số chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta trong những năm gần đây thì thấy ngoài những trường hợp kẻ phạm tội lợi dụng danh nghĩa cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội như là thủ đoạn phạm tội còn có không ít trường hợp chính các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật trong việc không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm để phạm tội. Vụ án vi phạm các quy định về quản lí và bảo vệ đất đai theo Điều 180 BLHS xảy ra ở xã Ngọc Thụy huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội là một thí dụ điển hình. Xuất phát từ chỗ ngân sách nhà nước cấp cho xã quá eo hẹp trong khi địa phương lại có nhu cầu xây dựng, trường học, trạm xá, bốt điện, đường đi… nên Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Đại hội xã viên đều nhất trí bán một diện tích rất lớn mặt hồ cho một số cơ quan nhà nước và cá nhân ở Hà Nội để lấy tiền đầu tư cho các công trình phúc lợi. Sau khi đã có Nghị quyết của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Đại hội xã viên, chủ nhiệm hợp tác xã và một số trưởng thôn được giao trực tiếp thực thi nhiệm vụ. Sau một thời gian, các nghị quyết đã được thực hiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân xã Ngọc Thụy đã được cải thiện và đó cũng là lúc toàn bộ ban lãnh đạo Đảng ủy, ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Hợp tác xã và các trưởng thôn phải đứng trước vành móng ngựa về tội danh như đã nêu trên và nhận các mức án khác nhau. Rõ ràng ở đây ta thấy có những điều bất hợp lí là những người trực tiếp thực hiện các nghị quyết của tập thể thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn một tập thể người được hưởng lợi ích từ hành vi phạm tội lại vô can. Trong luật hình sự (mặc dù chưa có điều luật nào của BLHS nước ta quy định) người ta vẫn thừa nhận thi hành mệnh lệnh cấp trên trong những trường hợp không nhận thức được đó là mệnh lệnh trái pháp luật được coi là tình tiết loại trừ tính nguy hiểm của hành vi. Trong vụ việc nêu trên, chắc chắn có không ít người không thể nhận thức được các nghị quyết của Đảng ủy, ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Đại hội xã viên là sai trái và vì vậy, lẽ ra họ phải được loại khỏi phạm vi những người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, dù thế nào chăng nữa, các tổ chức đã có nghị quyết sai trái và nghị quyết đó đã được thực hiện thông qua hành vi của những người đại diện thì tổ chức ấy không thể không chịu trách nhiệm. Trong trường hợp nêu trên, những người được tập thể ủy quyền đã rơi vào hoàn cảnh khó xử, nếu thực hiện sự ủy quyền của tập thể, họ trở thành kẻ hứng chịu trách nhiệm cho tập thể (cụ thể là bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn tập thể thì không); còn nếu không thực hiện họ đã vi phạm điều lệ của tổ chức và họ có thể bị kỉ luật. Rõ ràng như vậy là không công bằng và cái điều không công bằng này cần phải được khắc phục.

Qua nghiên cứu tình hình tội phạm và thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta, chúng tôi cho rằng đã đến lúc trong pháp luật hình sự của nước ta phải có các quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Trước đây, chúng ta không quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm bởi khi ấy chưa cần thiết vì số các vi phạm pháp luật của pháp nhân đạt tới mức nguy hiểm như tội phạm còn ít, chưa đáng kể. Lí luận luật hình sự chỉ ra rằng để tội phạm hóa một hành vi ít nhất cần có ba điều kiện: Hành vi có tính nguy hiểm cao cho xã hội; hành vi tương đối phổ biến; hành vi có thể được chứng minh bằng tố tụng. Hiện nay, các loại vi phạm đó của pháp nhân đã tương đối phổ biến và việc giải quyết, xử lí chúng bằng biện pháp hình sự là cần thiết. Việc quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm xét về bản chất không có gì là bất cập cho việc áp dụng pháp luật hình sự nói riêng cũng như trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Chúng ta vẫn thừa nhận đồng phạm, phạm tội có tổ chức là những hình thức phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn hơn hình thức cá nhân phạm tội. Các vi phạm pháp luật của pháp nhân đều được thực hiện dưới hình thức đồng phạm và lẽ ra so với các vi phạm cùng loại chúng phải được coi là nguy hiểm hơn mới đúng. Vì vậy, không truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân khi pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng có nghĩa là người làm luật đã mắc phải sai lầm là luôn luôn coi hành vi vi phạm của pháp nhân không nguy hiểm bằng hành vi vi phạm của thể nhân (cá nhân) và điều này rõ ràng mâu thuẫn với lí luận về đồng phạm và mâu thuẫn với quan điểm rất quan trọng được thừa nhận trong luật hình sự là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được đánh giá trước hết phải dựa vào tầm quan trọng của quan hệ xã hội nó xâm hại chứ không phải nó do cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện.

Mặc dù Bộ luật hình sự sửa đổi của nước ta mới được thông qua nhưng theo quan điểm của chúng tôi, trong thời gian tới cần cụ thể hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về kinh tế mà pháp nhân thường thực hiện như trốn thuế, kinh doanh trái phép, làm hàng giả, vi phạm các quy định về quản lí đất đai, vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường…

Trong quan hệ pháp luật hình sự, người đứng đầu hoặc người đại diện của pháp nhân và pháp nhân không thể chịu trách nhiệm hình sự thay nhau. Người đứng đầu hoặc người đại diện đồng thời phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ được thực hiện trong phạm vi được ủy quyền. Pháp nhân không chịu trách nhiệm hình sự cùng người đứng đầu hoặc người đại diện nếu hành vi phạm tội của người này nằm ngoài sự ủy quyền của pháp nhân. Ngược lại, người đứng đầu hoặc đại diện của pháp nhân chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hay kỉ luật về hành vi phạm tội của pháp nhân nếu họ không có lỗi hình sự đối với hành vi đó.

Nếu những quy định trên đây trong tương lai được thể hiện trong Bộ luật hình sự, chúng tôi tin chắc rằng nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật sẽ được củng cố và đây sẽ là điều kiện quan trọng bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của nước ta hiện nay./.


Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: sao lại chối bỏ?

Lê Quang Vy (Luật sư điều hành VLT Lawyers)

Nguồn: TBKTSG 4/5/2015

(TBKTSG) – Luật hình sự cổ điển hay hiện đại đều đòi hỏi yếu tố tinh thần (ý chí phạm pháp hay lỗi hình sự) là yếu tố cấu thành tội phạm hình sự bắt buộc. Như vậy trách nhiệm của một cá nhân khi vi phạm luật hình sự chỉ được xem xét khi người đó có đủ ý chí và ý thức.

Nguyên tắc này dẫn đến cách hiểu phổ biến là chỉ có những con người cụ thể bằng xương bằng thịt có ý thức, có ý chí mới là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, vấn đề chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không chỉ đơn giản như vậy bởi trong đời sống xã hội, pháp nhân được luật pháp công nhận cũng là một thành viên tích cực và đông đảo bên cạnh những cá nhân.

Pháp nhân tuy không phải là một con người cụ thể song đời sống pháp lý của nó cũng như một con người vì cũng có sinh, có tử, có tài sản, có nghĩa vụ, có quyền lợi và cũng có những hành xử có thể gây thiệt hại cho các lợi ích được luật hình sự bảo vệ.

Vì vậy, chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã trở thành đề tài tranh luận khá sôi nổi trong nghiên cứu cũng như trong hoạt động lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua.

Pháp nhân có ý chí riêng và có lỗi hình sự không?

Trong thế giới ngày nay, các pháp nhân đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đời sống xã hội. Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS) quy định pháp nhân là một tổ chức được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Thực vậy, pháp nhân cũng có một đời sống pháp lý như một cá nhân, chỉ khác nhau về mặt sinh học mà thôi. Trên phương diện pháp lý không thể xem tài sản, quyền lợi, nghĩa vụ và ý chí của pháp nhân chỉ là sự đóng góp tài sản, quyền lợi hay ý chí của các cá nhân. Bởi trong thực tế mâu thuẫn quyền lợi hay ý chí của pháp nhân và cá nhân cũng là một trong những vấn đề quan trọng được pháp luật điều chỉnh. Do vậy pháp nhân cũng có một ý chí riêng. Ý chí đó thường là của hội đồng quản trị (công ty cổ phần) hay hội đồng thành viên (công ty TNHH) và nó chỉ huy các hoạt động của pháp nhân. Vấn đề trách nhiệm dân sự của pháp nhân đã được luật pháp quy định từ lâu, trong khi trách nhiệm hình sự của pháp nhân lại đang bỏ ngỏ là một điều không hợp lý và cần xem lại.

Một điều không thể phủ nhận là đã, đang và sẽ có không ít những pháp nhân gây hậu quả lớn cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự như làm ô nhiễm môi trường, làm rò rỉ phóng xạ, xả lũ thủy điện gây lụt lội hoặc gian lận trong quan hệ tín dụng, trục lợi trên chứng khoán, lừa gạt, cạnh tranh bất chính…

Điều 618 BLDS quy định “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao…”. Trách nhiệm dân sự luôn được đặt trên nền tảng khái niệm lỗi, do vậy nếu pháp nhân phạm lỗi dân sự thì cũng có thể phạm lỗi hình sự. Một điều không thể phủ nhận là đã, đang và sẽ có không ít những pháp nhân gây hậu quả lớn cho xã hội đến mức phải xử lý hình sự như làm ô nhiễm môi trường, làm rò rỉ phóng xạ, xả lũ thủy điện gây lụt lội hoặc gian lận trong quan hệ tín dụng, trục lợi trên chứng khoán, lừa gạt, cạnh tranh bất chính… Đặc biệt với sự phát triển kinh tế và công nghệ điện tử tiên tiến hiện nay, các pháp nhân càng dễ bị cám dỗ và có nhiều cơ hội và phương tiện để phạm pháp. Vậy thiết nghĩ hình luật cần phải có những biện pháp chế tài thích nghi nhằm răn đe, ngăn chặn các hành vi phạm tội hình sự của các chủ thể là pháp nhân là điều xác đáng. Tất nhiên muốn khởi tố pháp nhân, trước hết phải chứng minh lỗi của chính pháp nhân và lỗi này phát sinh từ ý chí của pháp nhân.

Trừng phạt pháp nhân có trái nguyên tắc cá nhân tính hình phạt?

Chúng ta biết rằng trách nhiệm hình sự là trách nhiệm nặng nề nhất vì nó có thể tước đoạt quyền tự do hay mạng sống của một con người. Do vậy, một khi luật pháp trừng phạt cá nhân (giám đốc hay người điều hành pháp nhân) mà không trừng phạt pháp nhân sẽ là một điều bất công. Bởi suy cho cùng giám đốc hay người điều hành pháp nhân cũng chỉ là cá nhân thi hành nghị quyết (ý chí) của pháp nhân chứ họ không tự ý hành động. Nếu cho rằng trừng phạt pháp nhân là trừng phạt các thành viên trong pháp nhân mặc dù có thể chỉ một vài cá nhân trong pháp nhân ấy phạm lỗi hình sự thì điều này trái với nguyên tắc cá nhân tính hình phạt (người nào làm người đó chịu).

Tuy nhiên, cần phân biệt trách nhiệm trong tập thể khác hẳn với trách nhiệm vì tập thể. Luật cổ và trung đại của nhiều nước quy định cả tập thể đều bị trách nhiệm khi một cá nhân phạm tội. Điều này được quy định rất rõ trong luật hình, đặc biệt là đối với các tội danh phản nghịch. Cổ luật Việt Nam cũng không ngoại lệ, điều 411 Quốc triều hình luật quy định khi có kẻ làm loạn chống lại vua, không những thủ phạm và các tòng phạm mà tất cả những người thân biết sự mưu phản đều bị xử chém. Đây là hình thức trách nhiệm tập thể thời cổ luật, trái với nguyên tắc cá nhân tính hình phạt trong khoa học pháp luật hình sự ngày nay.

Do vậy, đối với pháp nhân cần phải hiểu trách nhiệm của các thành viên là trách nhiệm trong pháp nhân, khi pháp nhân bị trừng phạt thì hậu quả là các thành viên trong pháp nhân chỉ bị ảnh hưởng một cách gián tiếp mà thôi. Và vì pháp nhân có tài sản riêng, có quyền lợi riêng nên chỉ một mình pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự trên khối tài sản này. Ngày nay, hình luật của nhiều quốc gia tiến bộ đã đi một bước xa hơn, họ tiến tới quan niệm không cần xét đến yếu tố lỗi, nghĩa là bỏ yếu tố tinh thần, mà vẫn có thể chế tài những hành vi phạm pháp của pháp nhân bởi sự thi hành các biện pháp an ninh. Điển hình là tại Anh mặc dù rất chú trọng đến yếu tố tinh thần của tội phạm song hình luật của Anh từ lâu đã thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Luật Anh quy định trách nhiệm khắt khe (Strict liability), theo đó các hành vi xâm phạm đến quyền lợi hay trật tự công liên quan đến môi trường, phỉ báng tòa án, an toàn giao thông… đều được xử lý nghiêm ngặt. Trách nhiệm khắt khe chỉ yêu cầu công tố chứng minh hành vi mà không cần chứng minh yếu tố lỗi. Có lẽ vì pháp luật Anh có tính cách rất thực tế, thích cụ thể hơn là trừu tượng.

Có quan điểm cho rằng hình phạt là nhằm mục đích cải hóa phạm nhân nên pháp nhân không phải là con người tự nhiên thì làm sao biết “cải tà quy chính”. Vì thế mục đích của hình phạt sẽ không đạt được nếu áp dụng cho pháp nhân. Quan điểm này không hoàn toàn đúng, bởi thực ra luật pháp vẫn có thể áp dụng hình phạt cho những pháp nhân dưới nhiều hình thức, trong đó đặc biệt là hình phạt tiền, tước giấy phép… “Có tiền án” chắc chắn sẽ là một sự tổn hại về tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân khiến cho pháp nhân phải tôn trọng pháp luật và các lợi ích của xã hội hơn. Như vậy, tác dụng cảnh báo, răn đe, cải tạo và giáo dục của hình phạt đối với pháp nhân vẫn được đảm bảo.

Trước thực trạng ngày càng nhiều pháp nhân có hoạt động phạm pháp trong thời gian qua, nếu luật pháp không trừng phạt chính pháp nhân thì hóa ra sẽ không có chủ thể chịu trách nhiệm khi pháp nhân hoạt động phạm pháp. Đó sẽ là một lỗ hổng lớn trong hệ thống luật pháp và là sự thất bại trong mục đích bảo vệ các giá trị hay trật tự quan trọng trong xã hội. Hơn nữa, nếu chỉ tìm cách trừng trị giám đốc hay người điều hành trong khi những người này có thể vô tư lự, không có tài sản, trong khi chính pháp nhân phạm tội lại có đủ khả năng tài chính để nộp ngân hình thì được vô can đứng ngoài? Mục đích của luật hình sự là phòng ngừa, răn đe và trừng trị các hành vi nguy hiểm cho xã hội do các đối tượng có năng lực hành vi gây ra, pháp nhân là một chủ thể pháp luật (legal person) có đầy đủ năng lực hành vi vậy tại sao trách nhiệm hình sự của pháp nhân lại bị luật pháp chối bỏ?

 


Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân – nhìn từ dấu hiệu hành vi

Ths Vũ Hoài Nam – NXB TP – Bộ Tư pháp

Nguồn: MOJ 22/11/t 2012

Trong tiến trình nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật hình sự ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới thời gian qua, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một trong những vấn đề được đưa ra bàn luận rất nhiều cả dưới góc độ khoa học pháp lý và chính sách hình sự. Hiện tại tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến tranh luận khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên tựu chung lại hiện có hai luồng quan điểm chính song song cùng tồn tại đó là: Quan điểm phản đối trách nhiệm hình sự của pháp nhân và quan điểm ủng hộ trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Những người ủng hộ hay phản đối đều đưa ra nhiều luận chứng khác nhau để bảo vệ quan điểm của mình; và một trong những luận chứng được cả những người ủng hộ và phản đối dựa vào đó là dấu hiệu hành vi của tội phạm.

Để giúp các nhà khoa học, các nhà xây dựng chính sách, các nhà lập pháp và bạn đọc có thêm cái nhìn đa chiều hơn về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật hình sự thời gian tới; trong bài viết này, tác giả sẽ trình bày tóm lược đồng thời có những phân tích thêm về cách lập luận, giải thích về dấu hiệu hành vi với tư cách là một luận cứ của các luồng quan điểm khi bàn và bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề thiết lập hay không trách nhiệm hình sự của pháp nhân. 

  1. Về quan điểm phản đối

Theo quan điểm của những người phản đối thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân thì tội phạm biểu hiện ra bên ngoài là tổng hợp các hành vi khách quan. Hành vi khách quan phải do chính người phạm tội trực tiếp thực hiện, ở đây là con người cụ thể bằng xương, bằng thịt và có nhận thức chứ không phải một thực thể trừu tượng, vô hình. Nói theo quy định pháp luật hiện hành thì chủ thể của tội phạm phải là “người” có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định và đã thực hiện “hành vi” phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.

Cũng theo quan điểm trên thì pháp nhân là do các thành viên hợp lại, do vậy nó là một thực thể pháp lý trừu tượng, là một “người vô hình” đại diện cho tất cả các thành viên. Do không phải là thực thể hữu hình, nên pháp nhân không thể tự mình trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của pháp nhân là do những cá nhân, đó là các nhân viên thừa hành hoặc người đ­ược ủy quyền của pháp nhân thực hiện. Mặc dù trong thực tiễn, lãnh đạo pháp nhân, nhân viên thừa hành hoặc người được ủy quyền của pháp nhân có thể phạm tội trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy vậy, hành vi này là do các cá nhân thực hiện và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra; ở đây không thể nói hành vi đó là hành vi của pháp nhân, vì vậy, sẽ là không hợp lý nếu quy kết hành vi phạm tội đó cho chính bản thân pháp nhân. Do vậy mà những người phản đối thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho rằng nếu buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự là vi phạm nguyên tắc hành vi trong pháp luật hình sự.

Để lý giải một số tình huống (tội phạm) cụ thể xuất phát từ hoạt động của các pháp nhân, do những người trong pháp nhân gây ra khi thực hiện nhiệm vụ như các tội phạm về kinh tế, các tội phạm về môi trường… một số người phản đối trách nhiệm của pháp nhân cho rằng khi pháp nhân giao nhiệm vụ tức là mong muốn kết quả mà người thực hiện mang lại cho pháp nhân, hay nói cách khác là pháp nhân chỉ giao chỉ tiêu, việc thực hiện thế nào hoàn toàn do cá nhân con người cụ thể được giao nhiệm vụ quyết định. Những người này có quyền lựa chọn phương thức, cách làm mà pháp nhân không can thiệp. Do vậy họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình. Nếu những hành vi đó vi phạm vào các quy định của Bộ luật hình sự thì có thể xử lý họ về các tội như: “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ”, “vi phạm các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”… làm như vậy mới phù hợp với nguyên tắc cá thể hóa hành vi trong luật hình sự.

Từ cách lập luận về hành vi, chủ thể thực hiện hành vi như trên, những người phản đối việc xác lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho rằng xét dưới góc độ hành vi, pháp nhân không phải và cũng không thể là chủ thể của tội phạm.

  1. Về quan điểm ủng hộ

Ngược lại với quan điểm và cách nhận định trên, trên cơ sở học thuyết đồng nhất hoá hành vi của tập thể với hành vi cá nhân trong những điều kiện nhất định, nhiều nhà khoa học cho rằng việc thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự là cần thiết và phù hợp với xu thế hiện nay. Những người ủng hộ học thuyết đồng nhất hóa hành vi của tập thể với hành vi của cá nhân trong những điều kiện nhất định cho rằng mặc dù pháp nhân là tập hợp của những cá nhân con người riêng lẻ, tuy nhiên khi “quyết định” thành lập một pháp nhân/pháp nhân ra đời với một cơ cấu tổ chức cụ thể thì ở đây đã có sự biểu lộ các quyết định của tập thể vào sự tồn tại một ý chí thống nhất trong cá nhân của ng­ười đại diện, ng­ười lãnh đạo pháp nhân. Ở đây đã diễn ra quá trình đồng nhất hóa hành vi của tập thể với hành vi của cá nhân. Mọi hành vi của của cá nhân với tư cách là người đại diện cho pháp nhân được “xem” là hành vi của pháp nhân. Hay nói như cách nói của lý thuyết vai trò trong xã hội học thì khi đó cá nhân đang đóng vai trò và mang trọng trách của một tập thể (pháp nhân).

Các pháp nhân có ý thức, ý chí, mong muốn của riêng mình (như mục tiêu, định hướng, chiến lược, giá trị cốt lõi…) cùng với tư­ cách như­ các cá nhân (như ý chí, mong muốn, nguyện vọng…). Pháp nhân không phải là một trừu tượng pháp lý thuần tuý, nó có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, có sự tồn tại thực tế của nó trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân. Về thực tế, pháp luật đã ghi nhận nó trên phư­ơng diện pháp lý. Pháp nhân có ý chí độc lập chứ không đơn thuần chỉ là con số cộng ý chí của các cá nhân thành viên pháp nhân; pháp nhân có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó. Nói cách khác, các pháp nhân mặc dù bao gồm các cá nhân nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được pháp nhân thông qua các cấu trúc pháp lý xác định. Trong các pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đư­a ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình.

Theo quy định của pháp luật, quy chế, điều lệ của pháp nhân thì ng­ười đại diện, ng­ười lãnh đạo được thay mặt cho pháp nhân ra các quyết định, thực hiện các hành vi thuộc thẩm quyền của pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân. Đặc biệt là trong các quyết định mang tính tập thể (thường thông qua hình thức biểu quyết), thì sự thống nhất về ý chí của các chủ thể hợp thành pháp nhân là rất cao, người lãnh đạo pháp nhân khi ấy là người đưa các quyết định đó vào thực tiễn. Mọi hậu quả có lợi cũng như bất lợi phát sinh từ hành vi theo sự lựa chọn trên cơ sở tự do ý chí của ng­ười đại diện, ng­ười lãnh đạo đều do pháp nhân thụ hưởng hoặc gánh chịu. Vì vậy, khi ng­ười đại diện, ng­ười lãnh đạo thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân thì ý chí và hành vi của họ đ­ược đồng nhất hoá với pháp nhân, tức là được coi như­ là ý chí và hành vi của pháp nhân.

Theo quan điểm của GS-TSKH Đào Trí Úc thì “Trên thực tế, hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể do một tập thể gây ra do kết quả của việc đư­a ra những quyết định sai trái. Một số tội phạm, trên thực tế, cũng có thể do cá nhân hoặc pháp nhân gây ra. Ví dụ, các tội phạm về kinh tế, về môi tr­ường có thể là kết quả của hành vi tập thể của xí nghiệp công nghiệp, đơn vị kinh doanh nào đó”.

Đặt câu hỏi và trả lời cho một số tình huống cụ thể như trường hợp Hội đồng quản trị thống nhất ra Nghị quyết giao cho Giám đốc (cũng là thành viên Hội đồng quản trị) chỉ đạo thực hiện nghị quyết đó. Tuy nhiên, nội dung nghị quyết có nội dung vi phạm pháp luật hình sự/hoặc để thực hiện nghị quyết đó phải bằng các giải pháp mà giải pháp đó nếu thực hiện sẽ vi phạm pháp luật hình sự. Những người ủng hộ quan điểm trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho rằng trong trường hợp này không thể chỉ buộc giám đốc phải chịu trách nhiệm hình sự mà pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với tư cách là một chủ thể độc lập.

Như vậy, từ những tổng hợp và phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng chỉ riêng dấu hiệu hành vi thôi, khi vận dụng và giải thích vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã có những cách hiểu rất khác nhau. Trên thực tế, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới nhưng là vấn đề tương đối phức tạp và hiện còn nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Tác giả rất mong cùng bạn đọc tiếp tục trao đổi, thông tin thêm về vấn đề dưới những góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:

– Leffort, Precis de droit criminel, Paris, Sirey;

– GS-TSKH. Đào Trí Úc, Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý TNHS, Tạp chí Nhà nư­ớc và pháp luật, số 9/1999;

– PGS-TS. Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không?;

– Hoàng Thị Tuệ Phương, Trách nhiệm hình sự pháp nhân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, 2006.

 


Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân – nhìn từ dấu hiệu “lỗi” theo luật hình sự

Ths Vũ Hoài Nam – NXB TP – Bộ Tư pháp

Nguồn: MOJ 30/11/2012

Trong bài viết “Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân – nhìn từ dấu hiệu hành vi” đăng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp ngày 22/11/2012 tác giả đã trình bày tóm tắt hai luồng quan điểm khác nhau về vấn đề thiết lập hay không thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân xét từ dấu hiệu hành vi. Vẫn theo cách diễn đạt như vậy, để bạn đọc có thêm một góc nhìn nữa, trong bài viết này, tác giả sẽ tiếp tục trình bày và phân tích thêm về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo dấu hiệu lỗi quy định trong luật hình sự.

Lỗi là một dấu hiệu quan trọng thuộc mặt khách quan của tội phạm. Theo quan điểm được thừa nhận chung trong khoa học pháp lý thì lỗi trong luật hình sự là lỗi của một chủ thể khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trước hết được hiểu là quan hệ giữa chủ thể phạm tội với xã hội được thể hiện qua các đòi hỏi cụ thể của pháp luật hình sự. Điều đó có nghĩa là lỗi bao giờ cũng đi liền với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chủ thể thực hiện tội phạm muốn đạt được mục đích thì phải thực hiện hành vi, khi thực hiện hành vi, chủ thể thực hiện có sự lựa chọn và quyết định. Lựa chọn của họ là lựa chọn có ý thức. Khi đó họ có quyền lựa chọn tuân thủ pháp luật hay chống đối lại pháp luật. Do vậy, không thể nói đến lỗi khi không có một hành vi xẩy ra.

Từ đó có thể khái quát về lỗi trong luật hình sự như sau: Lỗi chính là thái độ tâm lý (nhận thức và ý chí) của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.

Trên cơ sở cách nhận thức về lỗi như trên, chúng tôi sẽ đi vào phân tích quan điểm của những người ủng hộ và phản đối thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân như sau:

1- Quan điểm phản đối thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Từ nhận thức, lỗi là thái độ tâm lý (nhận thức và ý chí) của chủ thể phạm tội đối với hành vi mà chủ thể đó thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây nên, những người theo quan điểm này cho rằng pháp nhân không có thể xác và cũng không có linh hồn, nó chỉ là những cấu trúc pháp lý đư­ợc thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành viên của pháp nhân. Các nghị quyết, các quyết định của pháp nhân chỉ là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên chứ không phải từ sự mong muốn của chính bản thân pháp nhân. Do vậy, không thể quy kết “hành vi” của pháp nhân nếu có, xuất phát từ “ý chí và nhận thức” của chính pháp nhân. Đó chỉ là ý chí của những con người cụ thể mà thôi. Những con người cụ thể ở đây chính là những cá nhân cấu thành một pháp nhân nào đó, họ có thể là những nhân viên thừa hành, những người lãnh đạo, quản lý đại diện cho pháp nhân hay nhân danh pháp nhân thực hiện một công việc cụ thể. Quá trình thực hiện các công việc nhân danh pháp nhân, họ được lựa chọn giữa việc tuân thủ hay chống đối pháp luật. Nếu họ lựa chọn chống đối pháp luật là hoàn toàn do ý thức của họ/là lỗi của cá nhân.

Cũng từ nhận thức cho rằng pháp nhân là một thực thể trừu tượng, là tập hợp của những cá nhân cụ thể, do đó pháp nhân không thể tự mình thực hiện hành vi của mình. Các hoạt động của pháp nhân chính là hành vi của những cá nhân cụ thể, ở đây là các nhân viên, đại diện của pháp nhân. Khi pháp nhân không thể tự mình thực hiện hành vi thì không thể nói là pháp nhân có lỗi, vì lỗi luôn luôn đi liền với hành vi cụ thể.

Friedrich Carl von Savigny (1779 – 1861) một học giả người Đức, trong một số nghiên cứu của mình ông đã nhấn mạnh: Pháp nhân chỉ là một thực thể trừu tượng sự tồn tại thực tế của nó dựa trên các quyết định của một hoặc một số những người đại diện mà chiểu theo sự trừu tượng đ­ược xem nh­ư là các quyết định của chính bản thân pháp nhân, một sự đại diện nh­ư thế, loại trừ ý chí theo đúng nghĩa. Như vậy, có thể nói là không có lỗi nào có thể được quy kết cho pháp nhân – một thực thể trừu tượng không có nhận thức và cũng không thể có ý chí.

Nói tóm lại, theo quan điểm này thì nếu đối với các thể nhân, có thể quy kết hành vi vật chất khách quan của vụ việc phạm tội và thái độ chủ quan tội lỗi của chính họ cho mỗi tội phạm thì đối với pháp nhân là không phù hợp, vì không có thể hành động trực tiếp, không có sự bấu víu trực tiếp nào vào thực tế khách quan và thiếu tự do ý chí, khả năng nhận thức nên nó (pháp nhân) về bản chất là những thực thể không tư­ơng thích cho việc thực hiện hành vi phạm tội và vì vậy nó (pháp nhân) không thể có lỗi trong hành vi của mình.

2- Quan điểm đồng ý thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Những người theo quan điểm đồng ý thiết lập trách nhiệm hình sự của pháp nhân cho rằng pháp nhân là một thực thể có thực (giống như thể nhân), có ý thức và có thể thực hiện hành vi của mình; và khi thực hiện hành vi thì nó cũng sẽ có thể có lỗi.

Tại sao nói pháp nhân là một thực thể có thật, chúng tôi xin tóm tắt lại những phân tích của những người ủng hộ quan điểm này, đó là bởi vì: pháp nhân có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, có sự tồn tại thực tế của nó trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân. Về thực tế, pháp luật đã ghi nhận nó trên phư­ơng diện pháp lý; pháp nhân có thể tự quyết định một cách tự do và theo đuổi những mục tiêu cụ thể của mình và độc lập với những lợi ích của các cá nhân tạo nên pháp nhân đó. Nói cách khác, các pháp nhân mặc dù bao gồm các cá nhân nhưng được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được pháp nhân thông qua các cấu trúc pháp lý xác định. Trong các pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đư­a ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của các thành viên của mình.

Trong cuốn “The civil law system – an introduction to the comparative study of law”, các tác giả Arthur Taylor Von Mehren & James Russell Gordley cho rằng “Pháp nhân không phải là một thể nhân, mà là một pháp nhân – tập hợp của nhiều ng­ười – đ­ược pháp luật trao cho tư cách của một ng­ười trong các quan hệ pháp luật”.

Denning LJ, một thẩm phán nổi tiếng người anh trong một phiên tòa xét xử tranh chấp giữa hai công ty tại Anh vào năm 1957 đã có một nhận định mà sau này thường được dẫn chứng để nói về tư cách của pháp nhân, đó là: “Một công ty dưới góc độ nào đó nó giống như cơ thể con người. Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm. Nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo các mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương”.

Chúng tôi cũng xin nhắc lại quan điểm của GS-TSKH Đào Trí Úc khi bàn về vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân ông cũng cho rằng: “Hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể do một tập thể gây ra do kết quả của việc đư­a ra những quyết định sai trái. Một số tội phạm, trên thực tế, cũng có thể do cá nhân hoặc pháp nhân gây ra”. Theo ông, pháp nhân có thể là chủ thể của một số loại tội phạm cụ thể như tội phạm về môi trường, tội phạm về kinh tế, bởi những tội này hoàn toàn có thể là kết quả của hành vi tập thể của xí nghiệp công nghiệp, đơn vị kinh doanh nào đó.Theo PGS-TS Phạm Hồng Hải thì: “Trong quan hệ pháp luật hình sự, người đứng đầu hoặc người đại diện của pháp nhân và pháp nhân không thể chịu trách nhiệm hình sự thay nhau. Người đứng đầu hoặc người đại diện đồng thời phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ được thực hiện trong phạm vi được ủy quyền. Pháp nhân không chịu trách nhiệm hình sự cùng người đứng đầu hoặc người đại diện nếu hành vi phạm tội của người này nằm ngoài sự ủy quyền của pháp nhân. Ngược lại, người đứng đầu hoặc đại diện của pháp nhân chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hành chính hay kỉ luật về hành vi phạm tội của pháp nhân nếu họ không có lỗi hình sự đối với hành vi đó”.

Cũng trong bài viết này, mặc dù chúng tôi không có ý định bình luận về việc các nhà làm luật của Việt Nam ủng hộ quan điểm nào, tuy nhiên xin trích dẫn một số quy định hiện hành để bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về vai trò, tư cách của pháp nhân theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam: Tại điều 84 Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định pháp nhân được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Tại điều 93 Bộ Luật dân sự của Việt Nam quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân; pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình, không chịu trách nhiệm thay cho thành viên của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân; thành viên của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

Như vậy, những người theo quan điểm ủng hộ việc thiết lập trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân cho rằng pháp nhân rõ ràng là một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng của mình, đ­ược xử sự tự do và hư­ởng quyền tự chủ của chủ thể có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân và vì vậy, có năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đ­ương nhiên có thể bị xử lý về hình sự. Như đã phân tích ở phần đầu, lỗi trong luật hình sự là thể hiện tự do ý chí của chủ thể (tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và có khả năng lựa chọn hành vi hợp pháp) thì pháp nhân cũng hoàn toàn tự do khi lựa chọn hành vi của mình. Vì vậy, trừ một số tội phạm được kết tội khách quan (strict liability) ở một số quốc gia theo hệ thống common law, việc quy kết trách nhiệm hình sự cho pháp nhân là hoàn toàn hợp lý trên cơ sở lỗi chứ không phải là quy tội khách quan.

Như vậy, một lần nữa từ cùng một dấu hiệu, những người theo quan điểm ủng hộ và phản đối có những lập luận hết sức khác nhau về vấn đề thiết lập hay không trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Điều này cho chúng ta thấy tính chất phức tạp của vấn đề trên. Với những tổng hợp hết sức sơ lược, chúng tôi hy vọng đã mang đến cho bạn đọc một góc nhìn nữa về chủ đề này.

Tài liệu tham khảo:

– M.F.C Von Savigny, Traité de droit romain, trad;

– A. Braas, Précis de droit criminel, Bruxlles- liège, Bruylant;

– Haus, Principes généraux de droit pénal belge, Gand, Librairie générale ad. hoste; 

– Arthur Taylor Von Mehren & James Russell Gordley, The civil law system – an introduction to the comparative study of law, second edition, little, Brown & company. Boston & Toronto, 1977.

– H.L. Bolton (eningeering) Company ltd. v. T.J. Graham &Son ltd (1957)

– Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, NXBTP-NXBTĐBK năm 2006; 

– Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999;

– Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXBTP, 2011;

– GS-TSKH. Đào Trí Úc, Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý TNHS, Tạp chí Nhà nư­ớc và pháp luật, số 9/1999;

– PGS-TS. Phạm Hồng Hải, Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không?;

– Hoàng Thị Tuệ Phương, Trách nhiệm hình sự pháp nhân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, 2006.


Trách nhiệm hình sự pháp nhân trong pháp luật Mỹ

TS. Nguyễn Khắc Hải – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử; Bản văn này chép lại từ Tạp chí Cảnh sát Nhân dân Online, ngày 18/3/2015

Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân ngay lập tức làm phát sinh một loạt các vấn đề pháp lý, như làm thế nào để xác định trạng thái tinh thần và xác định sự tồn tại của ý định trong hành động của một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, phạm vi mà pháp nhân chịu trách nhiệm về các hành động của nhân viên của họ, những tiêu chuẩn đưa đơn kiện đối với pháp nhân, các hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân. Ở Mỹ, chế định TNHS pháp nhân đã tồn tại hơn 100 năm nên các kinh nghiệm thực tế của Mỹ trong lĩnh vực này có thể là một công cụ hữu ích cho các nước đã áp dụng hoặc đang nghiên cứu khả năng đưa TNHS đối với pháp nhân vào pháp luật hình sự quốc gia. Bài viết bàn về các giai đoạn phát triển trong hệ thống pháp lý của các học thuyết của Mỹ về TNHS pháp nhân và việc áp dụng trên thực tế để làm sáng tỏ cách tiếp cận của Mỹ trong việc giải quyết vấn đề này.

1. Lịch sử vấn đề trách nhiệm hình sự  pháp nhân tại Mỹ

Ý tưởng của việc buộc các pháp nhân phải chịu TNHS đối với các hoạt động của các chi nhánh của chúng còn tương đối mới mẻ, bởi vì “vào đầu thế kỷ mười sáu và mười bảy thì quan điểm chung là pháp nhân không buộc phải chịu TNHS”. V.S. Khanna lập luận rằng, quan điểm này có thể xuất phát từ ít nhất bốn trở ngại: đầu tiên, việc “quy kết hoạt động của pháp nhân chỉ là viễn tưởng pháp lý”; thứ hai, cho rằng các pháp nhân không thể “có trạng thái tâm lý cần thiết để thực hiện tội phạm có chủ định; thứ ba là “học thuyết quyền lực cực đoan, theo đó tòa án sẽ không buộc các pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi, chẳng hạn như tội phạm, mà không được quy định trong điều lệ của mình”; và trở ngại thứ tư là “sự nhận thức theo nghĩa thông thường của các tòa án trong tố tụng hình sự”, dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng những quy tắc đối với chủ thể đặc biệt là pháp nhân.

Lúc đầu các tòa án ở Mỹ bắt đầu truy cứu TNHS pháp nhân “trong những trường hợp liên quan đến việc không thực hiện những điều luật buộc phải làm của các công ty tư nhân được ủy quyền của chính phủ, chẳng hạn như chính quyền của thành phố tự trị, dẫn đến thiệt hại cho cộng đồng”, và sau đó, các quy tắc về thiệt hại cho cộng đồng và tính chịu trách nhiệm được mở rộng áp dụng đối với cả các pháp nhân hoạt động thương mại. Mặc dù “thời gian giữa năm 1800 trở về trước đã có nhiều nghi vấn là liệu pháp nhân có thể phải chịu TNHS đối với sự lạm quyền (hành vi chủ động), cũng như không làm những điều pháp luật buộc phải làm (chểnh mảng, vô trách nhiệm)”. Năm 1852, Tòa án tối cao ở New Jersey cho rằng “một pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra bởi những nhân viên hoặc các đại lý của nó như một con người tự nhiên; và chịu trách nhiệm như một con người tự nhiên đối với các hành vi của các đại lý thực hiện theo thẩm quyền”. Vì vậy, theo Khanna, “sự phát triển này (buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm cho cả hai loại hành vi phạm tội có chủ định và chểnh mảng, vô trách nhiệm đối với trách nhiệm được giao) cuối cùng khuyến khích các tòa án mở rộng TNHS pháp nhân đối với tất cả các tội phạm mà không yêu cầu xác định chủ định”.

Tuy nhiên, các tòa án đã chậm chạp trong việc mở rộng TNHS pháp nhân đối với các tội phạm có chủ định. Năm 1909, tập đoàn Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ (New York Central & Hudson River Railroad) bị Tòa án tối cao buộc phải chịu trách nhiệm về những tội phạm có chủ định. Trong vụ án này, tập đoàn bị đơn cho rằng các quy định của pháp luật về vấn đề này, cho phép buộc các tập đoàn chịu trách nhiệm về những tội phạm thực hiện bởi các đại lý của họ là vi hiến vì “Tòa án không có thẩm quyền để quy tội cho một pháp nhân, hoặc truy tố pháp nhân bởi lý do những nhiệm vụ mà pháp nhân phải đảm nhiệm… [và] rằng, trừng phạt pháp nhân như vậy thì thực tế để trừng phạt các cổ đông vô tội, và để tước đoạt tài sản của họ mà họ không có cơ hội được xét xử, do đó không theo đúng thủ tục của pháp luật”. Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ lập luận này.

Sau đó các tòa án đã mở rộng tới cả các vụ án làm rõ ý định phạm tội, và “trong suốt đầu thế kỷ hai mươi các tòa án đã bắt đầu buộc các pháp nhân phải chịu TNHS… cho hầu hết những thiệt hại trừ những tội phạm hiếp dâm, giết người, vi phạm chế độ một vợ một chồng, và các tội phạm với mục đích hiểm độc”.

Theo pháp luật chung của Anh vào thế kỷ XVI-XVII, pháp nhân (doanh nghiệp) không bị truy cứu TNHS. Các luật sư vào thời điểm đó cho rằng, các công ty không phải là con người để có khả năng đưa ra sự lựa chọn thể hiện đạo đức, nên không thể phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức hoặc hình sự đối với các hành động của họ[2]. Một quan tòa nổi tiếng của Anh – Lord Holt – năm 1701 tuyên bố: “Doanh nghiệp không bị truy tố hình sự”[3], và trong hơn một thế kỷ, nguyên tắc pháp lý này đã hướng dẫn các thẩm phán Anh và Mỹ, ngăn chặn nỗ lực để áp đặt TNHS đối với pháp nhân. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XIX, tình hình bắt đầu thay đổi, vì các tòa án đã bắt đầu quan tâm đến TNHS đối với doanh nghiệp cho cái gọi là “vi phạm trật tự công cộng”. Luật pháp Hoa Kỳ định nghĩa “vi phạm trật tự công cộng” là “sự vi phạm công cộng vô lý đối với các lĩnh vực rộng lớn của pháp luật về công cộng”. Danh sách các hành vi “vi phạm trật tự công cộng” bao gồm một số hành động có hại và có khả năng gây nguy hiểm, chẳng hạn như thải các khí độc hại, gây cản trở trên đường công cộng, lưu giữ các động vật bị bệnh ở nơi công cộng và sở hữu chất nổ ở những vị trí nguy hiểm. Trong thế kỷ XIX, do tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, trong các tập đoàn ở Mỹ có các “vi phạm trật tự công cộng” đã tăng lên đáng kể, pháp luật đã được dự tính để đáp ứng những thay đổi này và việc cho phép truy cứu TNHS pháp nhân đã phần nào thể hiện điều này.

Năm 1852, Tòa án tối cao bang New Jersey đã đưa ra phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với các công ty đường sắt đã xây một tòa nhà ở giữa đường làm cản trở giao thông[4]. Năm 1854, Tòa án tối cao thượng thẩm ở bang Massachusetts đã phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với một tập đoàn xây dựng một cây cầu qua sông mà tàu bè hay đi lại, tạo ra những trở ngại cho vận tải đường sông[5].

Năm 1909, trong quyết định về vụ án Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ, Tòa án tối cao Mỹ đã chấp nhận luận cứ của tòa án xét xử vụ này về việc áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân. Vụ án này nhắc đến đạo luật Elkins, quy định mức cước phí của các công ty vận tải, bao gồm cả các công ty vận tải đường sắt, cấm các công ty vận tải đường sắt giảm giá cho các khách hàng ưu tiên của mình. Theo sự buộc tội của nhà nước thì các nhân viên của công ty đường sắt trong vụ Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ đã vi phạm quy định của Đạo luật và các tòa án buộc phải quyết định về khả năng truy cứu TNHS đối với công ty này.

Là kết quả của một quyết định của tòa án trong vụ án của công ty đường sắt Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ, chế định TNHS pháp nhân đã được thiết lập vững chắc trong luật pháp Mỹ, và các doanh nghiệp phải chịu TNHS đối với các trường hợp sau:

– Tội phạm môi trường;

– Cung cấp bất hợp pháp các dịch vụ y tế;

– Vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;

– Vi phạm pháp luật chống độc quyền;

– Tham ô và lừa đảo;

– Phổ biến hoặc trưng bày các nội dung khiêu dâm;

– Vi phạm pháp luật về an toàn tại nơi làm việc[6].

Ngoài những hành vi phạm tội này, căn cứ vào tính chất kinh tế, các doanh nghiệp thậm chí còn bị truy tố về những tội xâm phạm nhân thân, kể cả giết người. Ví dụ, vụ án của công ty xây dựng “Granit”, khi có bảy công nhân xây dựng đã thiệt mạng trên công trường thi công do tai nạn. Công ty đang tiến hành công việc xây dựng bị buộc tội giết người vì đã không tuân thủ các quy tắc an toàn kỹ thuật trên công trường xây dựng. Công ty xây dựng đã phản đối với lý do là pháp nhân chỉ có thể bị truy tố đối với các tội phạm liên quan đến tài sản, chứ không phải với các tội liên quan đến con người. Tòa phúc thẩm bác bỏ lập luận này và giải thích quyết định của mình như sau: “Nỗ lực để phân biệt giữa các tội phạm xâm phạm tài sản và tội phạm xâm phạm con người quy định bởi bản chất của pháp nhân như là những chủ thể của động cơ kinh tế. Phạm tội xâm phạm tài sản, các tổ chức có thể thu nhận lợi nhuận trực tiếp cho mình, còn các tội xâm phạm đến con người không phải luôn luôn trực tiếp liên quan đến động lực của lợi nhuận. Đây là sự lập luận không xác đáng. Các doanh nghiệp đã không quan tâm đến thực tế là mình có thể gián tiếp nhận được lợi ích về kinh tế bằng cách phạm tội xâm phạm đến con người. Để nhận được loại lợi nhuận kinh tế này thì doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí áp dụng các phương tiện, biện pháp an toàn, sử dụng vũ lực đối với các công nhân đình công hoặc sử dụng phương pháp phạm tội để chống lại đối thủ. Nếu pháp nhân đã chấp nhận những mạo hiểm trên và thực hiện những hành vi tương ứng thì pháp nhân đó cũng phải chịu TNHS tương tự như các bị cáo khác”[7].

Roland Hefendehl nói rằng “chỉ có hai tình huống mà TNHS của pháp nhân không thể được áp dụng: khi tội phạm không thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền – mà phạt tiền là những phương tiện mang tính nguyên tắc để trừng phạt một công ty – và khi tội phạm, do bản chất của nó không thể phạm phải bởi một pháp nhân (ví dụ như hiếp dâm). Như vậy, trong phần lớn các phán quyết của tòa án Mỹ, TNHS đối với pháp nhân được xác định trên học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên. Theo học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, ba yêu cầu phải được đáp ứng để áp đặt trách nhiệm đối với một doanh nghiệp: thứ nhất, một đại lý của doanh nghiệp phải có hoạt động bất hợp pháp (có hành vi khách quan) với trạng thái tâm lý (thể hiện ý định phạm tội); thứ hai, đại lý thực hiện những hoạt động đó trong phạm vi thẩm quyền của mình; cuối cùng, đại lý phải có dự định thu lợi cho tập đoàn.

Các tòa án liên bang cấp thấp hơn đã theo nguyên tắc chung này, ví dụ vào năm 1943, một công ty vi phạm một quy định về cấm đóng góp chính trị của các thực thể công cộng, vòng kiểm tra thứ tám phục vụ cho xét xử của tòa phúc thẩm cho rằng “không còn bất kỳ sự phân biệt cơ bản nào giữa trách nhiệm dân sự và TNHS của các doanh nghiệp, dựa trên những yếu tố của ý định hoặc sai mục đích”.

Theo một hướng khác, Tòa án tối cao cũng đã truy cứu trách nhiệm đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về “phúc lợi công cộng”. Ví dụ, tại Mỹ vào năm 1971 đối với vụ án về Tập đoàn Khoáng sản và Hóa chất quốc tế, Tòa án Tối cao áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc tiêu chuẩn đối với tập đoàn bị đơn về việc đã vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm[8].

2. Luật pháp Mỹ hiện hành

    2.1. Bộ luật hình sự mẫu  

Mặc dù dưới “Hiến pháp Mỹ, quyền lực để áp đặt TNHS nhìn chung là dành chủ yếu cho các tiểu bang,” và do đó “luật hình sự của Mỹ được pháp điển hóa trong năm mươi hai bộ luật hình sự khác nhau” vẫn còn có những tương đồng giữa các bộ luật, “do ảnh hưởng từ Bộ luật hình sự mẫu của Viện nghiên cứu luật Mỹ. Đối với TNHS của doanh nghiệp, cách tiếp cận của Bộ luật là “hạn chế hơn so với đa số các thẩm quyền phán quyết được sử dụng tại Mỹ. Xử phạt doanh nghiệp trong các trường hợp vi phạm chỉ áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm một nghĩa vụ nào đó do luật định hoặc nếu việc phạm tội là do sự bất cẩn của ít nhất một trong số các lãnh đạo cấp cao.

Bộ luật hình sự mẫu phân chia doanh nghiệp phạm tội thành ba nhóm với các hệ thống trách nhiệm khác nhau. Nhóm đầu tiên bao gồm các hành vi phạm tội phổ biến đòi hỏi phải có ý định phạm tội nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp, thông thường là do cá nhân vi phạm như gian lận hoặc giết người ở cấp độ hai[9]. Đối với các hành vi phạm tội này, Bộ luật “cung cấp các hình phạt đối với các doanh nghiệp chỉ khi tội phạm đã được thực hiện, hoặc ít nhất cũng đã được cho phép, ra lệnh hoặc do sơ xuất bởi ban giám đốc hoặc bởi lãnh đạo chi nhánh hành động thay mặt cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của mình”[10].

Nhóm thứ hai bao gồm các tội phạm chứa đựng yêu cầu về ý định phạm tội của doanh nghiệp (ví dụ như sự đồng mưu kinh doanh). Ở đây, Bộ luật hình sự mẫu theo thuyết trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, quy định rằng doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt đối với những tội phạm mà không cần quan tâm tới vị trí của người phạm tội trong doanh nghiệp hay người phạm tội đã hành động trong phạm vi của công việc của mình và với mục đích có lợi cho tập đoàn. Ngoài ra, Bộ luật hình sự mẫu tạo ra cơ chế biện hộ có lợi cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có thể chứng minh rằng một người giám sát có trách nhiệm cao hơn chủ thể của hành vi phạm tội đã làm việc rất tận tâm để ngăn chặn việc phạm tội, thì doanh nghiệp có thể không bị trừng phạt.

Cuối cùng, nhóm thứ ba được dựa trên các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối và đối với những tội phạm này thì theo Bộ luật hình sự mẫu, trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, các doanh nghiệp có thể phải chịu TNHS mà không cần có bằng chứng về ý định hoặc yếu tố vật chất khác của hành vi phạm tội và cũng không cần thiết phải chứng minh việc phạm tội với mục đích có lợi cho doanh nghiệp.

            2.2. Các quy định khác

“Tại Mỹ, pháp nhân được coi là chủ thể có thể bị đưa ra xét xử và bị kết án đối với những tội phạm do cá nhân giám đốc, người quản lý và thậm chí cả nhân viên ở cấp thấp thực hiện”[11]. Mỹ là quốc gia áp dụng “TNHS đặc trưng để bổ sung cho những quy định dân sự và hành chính”, điều mà những quốc gia khác sử dụng với tư cách là công cụ để điều chỉnh những hoạt động của các pháp nhân[12].

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và học giả không đồng ý vì nghi ngờ cách thức mà người Mỹ tiến hành hiện nay có lợi hay gây hại nhiều hơn. Edward Diskant chỉ ra rằng, chỉ riêng quá trình đưa ra bản cáo trạng thôi cũng có thể có “tác động hủy hoại về tài chính và uy tín, và điều này có thể làm hỏng công việc kinh doanh của các công ty. Và hệ quả là, nhận thức chung trong cộng đồng kinh doanh đối với việc kết tội pháp nhân chính là cú đánh có khả năng khai tử đối với một công ty, và như vậy công ty khó có thể phục hồi ngay cả khi nó thực sự là vô tội”.

Theo quy định của pháp luật hình sự, một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thực hiện hành vi rõ ràng là cố ý. Pháp nhân, khác với con người, không có khả năng nhận thức được phạm trù đạo đức, do đó, làm sao có thể truy cứu TNHS pháp nhân? Theo luật Mỹ, câu trả lời nằm trong hành động và quyết định của các nhân viên của pháp nhân đó. Tòa án thượng thẩm liên bang của Mỹ đã đưa ra phán quyết “hoạt động của pháp nhân, cuối cùng, là những hành động của các nhân viên của mình trong phạm vi thẩm quyền được trao”[13].

Để truy cứu TNHS pháp nhân, luật hình sự Mỹ yêu cầu xác định chủ ý trong các hoạt động của pháp nhân đó thông qua các hành động của nhân viên. Nếu nhân viên có “thẩm quyền thực tế” hay “thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý” để hành động, trong đó “thẩm quyền thực tế” được hiểu là thẩm quyền do pháp nhân trao cho nhân viên này[14], “thẩm quyền trên cơ sở dự đoán hợp lý” được định nghĩa là “thẩm quyền, trong đó, theo các bên thứ ba, theo sắp đặt đại diện của tổ chức, xuất phát từ trách nhiệm và nghĩa vụ phải thực hiện của họ trong pháp nhân, có liên quan đến các hành động trước đây của mình”[15].

2.3. Hình phạt

Không giống như cá nhân, tổ chức không thể bị phạt tù, do đó tại Mỹ, phạt tiền được coi là hình phạt chủ yếu, cơ bản để áp dụng với pháp nhân. Tuy nhiên, cách tính số tiền phạt trong từng trường hợp cụ thể cũng được quy định cụ thể. Theo Luật về cải cách áp dụng hình phạt vào năm 1984, loại hình phạt áp dụng bởi Tòa án liên bang Mỹ, soạn thảo bởi Ủy ban áp dụng hình phạt của Mỹ, đối với hình phạt cho các doanh nghiệp, Ủy ban quyết định như sau: “Hướng dẫn về áp dụng hình phạt đối với các tổ chức được thiết lập để tất cả các biện pháp trừng phạt đối với các tổ chức và đại diện của họ, bảo đảm hình phạt công bằng và các biện pháp thích hợp ngăn chặn sẽ khuyến khích các tổ chức sử dụng cơ chế nội bộ để ngăn chặn, phát hiện và ghi lại các hoạt động bất hợp pháp”[16].

Theo khuyến nghị của Ủy ban áp dụng hình phạt, đối với việc thi hành bản án của các tổ chức, tòa án trước tiên phải “buộc các tổ chức bồi thường mọi thiệt hại gây ra bởi hành động phạm pháp của mình” nhằm khôi phục toàn vẹn cho những người bị hại[17]. Nói cách khác, trước khi tòa án áp dụng phạt tiền đối với tổ chức, thì cần phải bồi thường cho các nạn nhân. Sau đó, tòa án phải xác định thực hiện hay không “hoạt động của tổ chức chủ yếu cho mục đích tội phạm hay chủ yếu bằng các phương thức phạm tội”. Trong trường hợp này, tòa án buộc phải áp dụng chế tài tiền trong phạm vi “đủ để loại bỏ tổ chức này và tất cả tài sản của nó”. Như vậy, trong ví dụ giả định trên, việc hối lộ quan chức chính phủ của doanh nghiệp để có được hợp đồng béo bở, khi áp dụng hình phạt thì tòa án kết án phải tính toán tổng giá trị các tài sản của doanh nghiệp và phạt tiền ở mức bảo đảm cho doanh nghiệp phá sản.

Trong mọi trường hợp, khi áp dụng hình phạt dưới hình thức chế tài phạt tiền thích đáng thì tòa án phải cân nhắc hai yếu tố – mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lỗi của tổ chức[18]. Yếu tố đầu tiên, “mức độ nghiêm trọng của tội phạm” được xác định bằng cách tính toán lợi ích về tiền tệ, và các thiệt hại gây ra cho người bị hại bởi những hành động bất hợp pháp. Nói cách khác, số tiền mà tổ chức “kiếm được” càng lớn bằng cách phạm tội và các thiệt hại gây ra cho người bị hại càng đáng kể thì mức độ nghiêm trọng của tội phạm càng cao. Yếu tố thứ hai, “lỗi của tổ chức” xác định dựa trên một số yếu tố khác có thể được tóm tắt như sau: i) các biện pháp của tổ chức nhằm phòng ngừa việc phát hiện và điều tra các hành động bất hợp pháp mà tổ chức đã thực hiện tính đến thời điểm thực hiện tội phạm; ii) mức độ tham gia của nhân viên trong các hoạt động bất hợp pháp hoặc mức độ khoan dung đối với hoạt động bất hợp pháp; iii) hành động của tổ chức sau khi phạm tội; iv) lịch sử hoạt động của tổ chức.

Đối với các biện pháp của tổ chức để ngăn chặn việc phát hiện và điều tra hành vi bất hợp pháp đến thời điểm phạm tội, toà án đánh giá mức độ hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp về “các kế hoạch tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức”. Để hỗ trợ cho các thẩm phán trong việc đánh giá này, Uỷ ban áp dụng hình phạt xác định những tiêu chí sau đây để xác định mức độ hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức:

1.      Các tổ chức phải soạn thảo và thực hiện chính sách tiêu chuẩn và thủ tục để phòng ngừa và phát hiện các hoạt động bất hợp pháp.

2.       (i) Bộ phận quản lý của tổ chức cần biết về các nội dung và việc áp dụng các kế hoạch theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức và thực hiện quyền kiểm soát hợp lý trong việc thực hiện và tính hiệu quả của kế hoạch thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (ii) Người quản lý cao nhất của tổ chức phải đảm bảo rằng tổ chức có một kế hoạch hiệu quả về việc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức phù hợp với yêu cầu đặt ra trong hướng dẫn này. Trong số lãnh đạo cao cấp chỉ định một hoặc một số người chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (iii) Một hoặc một số nhân viên cụ thể phải kiểm soát hàng ngày đối với việc thực hiện kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Một hoặc một số nhân viên chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động được yêu cầu phải nộp báo cáo thường xuyên cho cấp trên và trong trường hợp cần thiết, quản lý cấp trên hoặc cơ quan quản lý cấp trên về hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Nhân viên thực hiện kiểm soát hoạt động được cung cấp nguồn lực đầy đủ, quyền hạn đầy đủ và có thể trực tiếp gặp quản lý cấp cao hoặc cơ quan quản lý cấp cao của tổ chức.

3.      Tổ chức phải có biện pháp hợp lý để ngăn chặn các nhân viên có thẩm quyền trước đó đã tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp hoặc các hành vi vi phạm mà không phù hợp với các nguyên tắc của một kế hoạch hiệu quả cho phù hợp với tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

4.      (i) Tổ chức phải thực hiện các bước hợp lý để thường xuyên và với hình thức thiết thực để thu nhận thông tin của nhân viên nêu tại điểm (ii), quy định tiêu chuẩn, thủ tục và các khía cạnh khác của kế hoạch để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả việc tổ chức các khóa đào tạo hiệu quả và sử dụng những cách khác để cung cấp cho nhân viên như thông tin mà họ cần phải thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình; (ii) Người lao động nêu tại điểm 2i, là thành viên của cơ quan điều hành tối cao, quản lý cấp cao, các nhân viên với cấp bậc cao hơn, các nhân viên chủ chốt của tổ chức và khi thích hợp, là đại diện của tổ chức.

5.      Tổ chức phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm: (i) đảm bảo phù hợp với các kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả giám sát và kiểm tra để phát hiện hành vi trái pháp luật; (ii) thường xuyên đánh giá hiệu quả của việc tuân thủ của tổ chức này với các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (iii) và thực hiện một hệ thống để thông báo cho tất cả nhân viên thực hiện các cơ chế để đảm bảo ẩn danh và bảo mật, thông qua đó nhân viên và đại diện tổ chức có thể không sợ bị trả thù, nói về việc sắp làm hay việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc được tư vấn về hành động của họ liên quan chuẩn bị hoặc tội phạm đã thực hiện.

6.      Để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức cần (i) khuyến khích thực hiện nhiệm vụ theo quy định của chương trình cho phù hợp với luật pháp và đạo đức (ii) các biện pháp xử lý kỷ luật thích đáng đối với những hành động bất hợp pháp và không tuân thủ việc thực hiện các bước hợp lý để ngăn chặn hoặc phát hiện những hoạt động trái pháp luật.

7.      Sau khi hành vi bất hợp pháp bị phát hiện, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hợp lý để điều chỉnh đối với vi phạm pháp luật và ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi phạm pháp tương tự trong tương lai, bao gồm cả việc tiến hành thay đổi và bổ sung cần thiết vào chương trình để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

8.      Các tổ chức phải thường xuyên đánh giá rủi ro của các hoạt động trái pháp luật và có biện pháp thích hợp để thực hiện, áp dụng, thay đổi từng mệnh lệnh để giảm nguy cơ vi phạm pháp luật, được phát hiện trong giai đoạn kiểm tra này.

Khi phân tích các yếu tố thứ hai – mức độ tham gia thực hiện tội phạm của các thành viên chủ chốt của các tổ chức – Toà án phải xem xét quy mô của tổ chức này (dựa trên tổng số nhân viên) và mức độ tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp trong tổ chức. Đối với yếu tố thứ ba – các hoạt động của tổ chức sau khi tội phạm, Toà án phải xác định xem các tổ chức có cản trở việc điều tra, xét xử trong một vụ án hình sự (tình tiết tăng nặng) hoặc ngược lại, hợp tác với cơ quan điều tra và thừa nhận trách nhiệm của mình đối với các việc phạm tội (tình tiết giảm nhẹ). Khi phân tích yếu tố thứ tư – lịch sử hoạt động của tổ chức, Toà án phải xác định được tổ chức trước đó có vi phạm pháp luật không, và đặc biệt là có vi phạm trong thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng đối với tổ chức các chế tài xử lý về hình sự, dân sự hoặc hành chính đối với các vi phạm pháp luật tương tự.

Khi áp dụng một hình phạt thích hợp cần xem xét, đánh giá các yếu tố định lượng như lợi ích tài chính cho tổ chức và các yếu tố định tính như sự sẵn sàng của tổ chức trong hợp tác với cơ quan điều tra. Mặc dù không có yếu tố riêng lẻ nào mà không có những ý nghĩa nhất định, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng, hành vi của tổ chức sau khi phát hiện ra vi phạm đóng một vai trò quan trọng. Ví dụ, trong vụ án Mỹ kiện Công ty Du lịch hàng hải Na Uy (Mỹ kiện Cruise Lines Na Uy)  về hành vi vi phạm pháp luật môi trường, doanh nghiệp đã thừa nhận trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội, góp phần tích cực điều tra và nộp phạt một triệu đôla.

3. Kết luận

Năm 1991, Ủy ban tuyên án của Mỹ đã ban hành những hướng dẫn tuyên án chung đầu tiên (USSG) để xác định những bản án hình sự được áp dụng đối với các doanh nghiệp phạm tội tại các Tòa án liên bang “bao gồm sự gia tăng trong việc áp dụng những khoản tiền phạt lớn và mở rộng ủy thác nhiệm vụ của giám đốc doanh nghiệp”[19],[20]. Điều đáng nói là, theo các hướng dẫn này, nhân sự cấp cao của một công ty đã được yêu cầu phải giám sát sự tuân thủ tất cả các luật của tiểu bang và liên bang có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp”[21]. Năm 2004, Ủy ban đã ban hành hướng dẫn mới trong đó tăng lên đáng kể “mức độ trách nhiệm của nhân viên và giám đốc doanh nghiệp đối với hoạt động phạm tội hoặc hoạt động vô nguyên tắc, vô kỷ luật trong doanh nghiệp”.

Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy rằng, các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến việc truy tố TNHS đối với pháp nhân, chẳng hạn như khả năng xác định trạng thái tâm lý và ý định trong hoạt động của các tổ chức, cũng như khả năng áp dụng một hình phạt thích đáng, có thể dễ dàng giải quyết. Tuy nhiên, chế định TNHS của pháp nhân là một vũ khí thực thi pháp luật mạnh mẽ có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, việc đưa chế định này vào pháp luật hình sự của quốc gia phải đồng thời giới thiệu những hướng dẫn nghiêm ngặt cho các công tố viên (kiểm sát viên) và thẩm phán để bảo đảm việc áp dụng có trách nhiệm và phù hợp nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, chứ không phải với mục đích thu tiền phạt./.

 


[1] Beale, S.S. and Safwat, A.G., “What Developments in Western Europe Tell Us About American Critiques of Corporate Criminal Liability.” 8 Buff. Crim. L. Rev. 89, 126-27, 2004 (Бил С.С. и Сэфуат А.Джи. Что последние события в Западной Европе говорят нам о критикуемой в США уголовной ответственности юридических лиц, 2004 г .).

[2] Khanna, V.S., “Corporate Criminal Liability: What Purpose Does it Serve ?” 109 Harv. L. Rev. 1477, 1479-1480, May 1996. (Хана В.С. Уголовная ответственность юридических лиц: для чего она нужна? Май1996г .).

[3] Anonymous Case (No. 935), 88 Eng. Rep. 1518, 1518 (K.B. 1701).

[4] The State v. the Morris and Essex Railroad Co., 23 N.J.L. 360 (1852).

[5] Commonwealth v. Proprietors of New Bedford Bridge ,  668 Mass 339 (1854). 

[6] 18B Am.Jur.2d Corporations §1844.

[7] Granite Construction Co. v. Superior Court, 149 Cal. App. 3d 465, 467 (5th Dist. 1983).

[8] U.S. v. International Minerals & Chemical Corp., 402 U.S. 558 (1971).

[9] at 291, quoting Model Penal Code § 2.07(1)(a).

[10] quoting Model Penal Code § 2.07(1)(a).

[11] Edward B. Diskant, “Comparative Corporate Criminal Liability: Exploring the Uniquely American Doctrine. Through Comparative Criminal Procedure.”  The Yale Law Journal , October 2008, v.118:i1, p.126-176, at p. 128.

[12] Id. at 129.

[13] United States v. Bank of New England , N.A., 821 F .2d 844, 855 (1st Cir. 1987).

[14] Joel M. Androphy, Richard G. Paxton & Keith A. Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex. B.J. 121 (1997).

[15] United States v. BI-Co Pavers, 741 F .2d 730, 737 (5th Cir. 1984). 

[16] United States Sentencing Guidelines (“USSG”), Chapter 8, Introductory Commentary. (Руководство США по назначению наказания. Глава 8, Вступительные комментарии).

[17] USSG, Chapter 8, Introductory Commentary.

[18] USSG, tlđd.

[19] Jeffery S. Parker and Raymond A. Atkins, “Did the Corporate Criminal Sentencing Guidelines Matter? Some Preliminary Empirical Observations.”  Journal of Law and Economics, v.42:n1 part 2 (April 1999), pp. 423-53, at 423.

[20] Jeffery M. Kaplan, “The New Corporate Sentencing Guidelines.”  Ethikos and Corporate Conduct Quarterly, July/August 2004.  Available at: http://www.singerpubs.com/ethikos/html/guidelines2004.html

[21] Keven M. Hart, “New Sentencing Guidelines for Corporate Directors and Officers.”  New Jersey Law Blog, published by Stark & Stark: Nov. 2004, available at:    http://www.njlawblog.com/2004/11/articles/corporate-investigations-white/new-sentencing-guidelines-for-corporate-directors-and-officers/.


Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: nhìn từ tổng thể luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự và luật thương mại

Bài viết lấy từ trang NPK & Associates, không rõ tác giả là ai, chỉ ghi gguồn: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Việc hoãn thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 để sửa đổi thêm khiến một lần nữa người ta lại tranh luận sôi nổi về việc có hay không nên quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) pháp nhân, và nếu quy định TNHS pháp nhân như Bộ luật này thì những nội dung nào cần phải quy định, chỉnh sửa hoặc làm rõ… Bài viết nhìn nhận về TNHS pháp nhân từ tổng thể các ngành luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự và luật thương mại với các phương pháp như phân loại pháp lý, phân tích nguyên tắc, quy phạm và xung đột quan điểm, so sánh pháp luật, mô hình hóa các quan hệ xã hội… để cố gắng trả lời cho các câu hỏi trên.

I. Nên hay không nên quy định trách nhiệm hình sự pháp nhân trong Bộ luật Hình sự?

Ngày nay, TNHS pháp nhân được thừa nhận rộng rãi trên thế giới bởi sự xuất hiện và gia tăng nhiều loại tội phạm mới và nhiều phương thức phạm tội mới đối với nhiều tội phạm truyền thống mà nếu không truy cứu TNHS pháp nhân thì khó có thể đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm này, chẳng hạn như: các tội phạm liên quan tới tài trợ khủng bố, môi trường, tham nhũng, tài chính, cạnh tranh, rửa tiền, gây tổn hại người tiêu dùng, trục lợi bảo hiểm, tuyển mộ lính đánh thuê, buôn bán người, khai thác trái phép tài nguyên, lừa đảo, gian lận thương mại[1]… Tuy nhiên, việc quy định TNHS pháp nhân gặp các vướng mắc lớn về nhiều phương diện từ nền tảng triết lý, nguyên tắc và mục tiêu của luật hình sự nói chung cho tới kỹ thuật pháp lý và các giải pháp cụ thể của luật hình sự. Vì vậy, các cuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ không chỉ dừng lại ở vấn đề học thuật mà còn mở rộng sang cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội…

Cho tới nay, có hai trường phái tiếp cận TNHS pháp nhân (về việc có hay không thừa nhận TNHS pháp nhân) khác nhau ở quan niệm lý thuyết liên quan tới vấn đề pháp nhân có khả năng tiến hành các hành vi một cách có ý thức, có trách nhiệm hay không, do đó dẫn tới việc có thể phạm tội hay không, và khác nhau trên phương diện thực tiễn liên quan tới tố tụng[2]. Ở những nước không thừa nhận TNHS pháp nhân, không phải là không ý thức được sự cần thiết phải có một phương thức pháp lý hữu hiệu để kiểm soát sự vi phạm những điều cấm của pháp nhân. Điển hình là nước Nga. Theo Pavel Biriukov thì “Một trong những hình thức quan trọng nhất của đấu tranh chống tội phạm là TNHS pháp nhân. Khoa học Nga có một vài ấn phẩm đề cập tới những khía cạnh khác nhau của vấn đề này. Tuy nhiên, đa số các nhà khoa học Nga phản đối khái niệm TNHS pháp nhân”[3].

Mỗi quốc gia đều có các phương thức pháp lý khác nhau trong việc kiểm soát những vi phạm của pháp nhân. Theo OECD[4], hiện có bốn hệ thống với bốn phương thức khác nhau liên quan tới trách nhiệm phạt pháp nhân (corporate punitive liability), bao gồm: (1) TNHS (criminal liability); (2) chuẩn TNHS (quasi – criminal liability); (3) trách nhiệm phạt hành chính đối với các tội phạm hình sự (administrative punitive liability for criminal offences); và (4) trách nhiệm phạt hành chính đối với các vi phạm hành chính – VPHC (administrative punitive liability for administrative offences)[5]. Lưu ý rằng, hệ thống chuẩn TNHS là một hệ thống áp đặt chế tài hình sự cho pháp nhân, song không đặt vấn đề pháp nhân có phạm tội hình sự hay không. Khi xây dựng BLHS năm 1999 của Việt Nam, Ban Soạn thảo đã có ý định đưa vấn đề TNHS pháp nhân vào bộ luật này, mặc dù chưa có mô hình cụ thể. Rất nhiều ý kiến phản đối ý định đó và đề nghị đi theo hướng sử dụng luật hành chính để xử lý những vi phạm của pháp nhân, và thực tiễn lập pháp đã diễn ra như vậy, dù chưa rõ rệt về ý đồ và mô hình. Cho đến nay, không ít luật gia Việt Nam vẫn phản đối việc quy định TNHS pháp nhân với các phản bác rõ ràng. Còn số người ủng hộ cho việc quy định TNHS pháp nhân lại đang thiếu những lập luận có tính hệ thống xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản. Bởi vậy, việc xác định điểm xung đột mấu chốt cụ thể của các quan điểm này có ý nghĩa quan trọng để tháo gỡ những vướng mắc và xây dựng một mô hình xử lý những vi phạm của pháp nhân một cách hữu hiệu.

Các quốc gia phản đối việc truy cứu TNHS pháp nhân thường là các quốc gia duy trì nguyên tắc cổ: “Societas delinquere non potest” (có nghĩa đơn giản là: một pháp nhân không thể bị trách cứ[6]). Nguyên tắc này được hiểu là một pháp nhân không thể có ý thức của riêng nó và do đó không thể có ý chí phạm tội[7]. Hầu hết các nền tài phán đều xây dựng cơ sở để truy cứu TNHS nói chung trên nền tảng tư tưởng và các yếu tố của câu châm ngôn tiếng Latin: “Actus non facit reum, nisi mens sit rea”, có nghĩa là một hành vi không cấu thành tội phạm, trừ khi có ý chí phạm tội. Nguyên lý triết học này đòi hỏi một tội phạm phải cơ bản có hai yếu tố là (1) yếu tố vật chất, và (2) yếu tố tinh thần. Đòi hỏi này được phân tích và thể hiện thành một số yếu tố, điều kiện khác nhau chút ít giữa các nền tài phán khác nhau. Chẳng hạn, luật hình sự Hoa Kỳ có những nguyên tắc cơ sở về TNHS bao gồm những yêu cầu vềactus reus (yếu tố vật chất) và mens rea (yếu tố tinh thần), cùng với những biện hộ chẳng hạn như tình trạng mất trí hay phòng vệ[8]. Người ta khẳng định, luật hình sự Đức quan niệm có ba yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: (1) luật định; (2) hành vi sai trái; và (3) lỗi[9]. Hành vi sai trái ở đây chính là yếu tố vật chất. Và tất nhiên lỗi là yếu tố tinh thần. Ngày nay, hầu hết các nước đều thừa nhận yếu tố luật định của tội phạm bởi sự đòi hỏi tính minh thị của việc trừng phạt, bảo đảm quyền con người, và phản ánh yêu cầu đấu tranh chống tội phạm… Nhưng ở truyền thống Common Law, thẩm phán được phép xác định những tội mới mà được gọi là khinh tội của thông luật (common law misdemeanors), tuy nhiên chế độ này đã bị từ chối bởi tòa án hoặc đạo luật[10]. Luật hình sự Việt Nam ngày nay theo truyền thống Sovietique Law[11], quan niệm tội phạm có bốn yếu tố cấu thành, bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm. Các yếu tố này cũng được phân biệt thành yếu tố vật chất (thể hiện rõ nhất ở mặt khách quan của tội phạm) và yếu tố tinh thần (thể hiện rõ nhất ở mặt chủ quan của tội phạm). Cũng có quan niệm khác về bốn yếu tố cấu thành của tội phạm nhưng có sự khác biệt như sau: (1) yếu tố pháp định; (2) yếu tố vật chất; (3) yếu tố tinh thần; và (4) yếu tố bất công[12]. Các yếu tố hay điều kiện tạo thành cơ sở để truy cứu TNHS nêu trên ở các nền tài phán khác nhau cho thấy yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần là không thể thiếu, và cho thấy sự phản ánh một vấn đề triết học rằng: Chỉ con người mới có thể là chủ thể của các quyền và biến thế giới còn lại thành đối tượng của các quyền bởi có ý thức và có khả năng biến mong muốn trong ý thức đó trở thành hiện thực; do đó chỉ con người mới có đời sống pháp lý, có nghĩa là có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ. Vì vậy, chỉ có thể coi hành vi nào đó là tội phạm để buộc người thực hiện nó vào một sự cưỡng bức pháp lý hay sự bất lợi về mặt pháp lý nếu người thực hiện hành vi đó ở trong tình trạng có ý thức mà được biểu hiện cụ thể thành có lý trí và ý chí khi thực hiện hành vi đó (lỗi).

Nhưng thực tế đã thay đổi. TNHS pháp nhân đã được các nước Common Law sáng tạo ra từ khoảng thế kỷ 19 với khởi đầu là trách nhiệm thay thế (vicarious liability) ở Hoa Kỳ và học thuyết đồng nhất hóa[13] (Indentification theory) ở Anh với các tội do luật định (statutory offences) lúc ban đầu, sau đó mở rộng tới các tội có ý định phạm tội (mens rea offences), và được tiếp thu vào BLHS 1950 của Hà Lan[14] rồi lan rộng ra thế giới.

Điều 51, BLHS năm 1976 hiện hành của Hà Lan quy định:

“1. Các tội hình sự có thể bị phạm phải bởi các thể nhân và các pháp nhân.

2. Khi một pháp nhân phạm một tội hình sự, thì tố tụng hình sự có thể được tiến hành và các hình phạt, cũng như các biện pháp được quy định bởi luật, nếu áp dụng, có thể được áp đặt để chống lại:

(1) pháp nhân

(2) người đã ra lệnh phạm tội hình sự và người chỉ dẫn hành vi trái pháp luật đó hoặc

(3) những người nói tại điểm (1) và (2) cùng với nhau.

3. Trong việc áp dụng các khoản trên, những tổ chức sau đây được coi như tương đương với pháp nhân: các công ty không hợp thành đoàn thể (unincorporated companies), các hợp danh (partnerships), các công ty vận chuyển, các quỹ đặc biệt”.

Như vậy, pháp nhân cũng là chủ thể của tội phạm như thể nhân. Vậy vấn đề thường được đặt ra là pháp nhân có yếu tố tinh thần không, và nếu không thì phải chăng yếu tố tinh thần không nhất thiết là một yêu cầu đối với pháp nhân phạm tội, hoặc yếu tố tinh thần được lý giải theo một cách thức khác với thể nhân? Khi nghiên cứu về TNHS pháp nhân, người ta không thể không nghiên cứu về các nguyên tắc của luật hình sự trong mối quan hệ với pháp nhân để trả lời cho câu hỏi căn bản và tóm tắt rằng: pháp nhân có thể có ý chí phạm tội không và có thể thực hiện các hành vi vật chất của tội phạm không?

Các nghiên cứu trên cho thấy, yếu tố lỗi là điểm mấu chốt của sự xung đột quan điểm có hay không truy cứu TNHS pháp nhân mặc dù lỗi được nhận thức không khác nhau giữa các nền tài phán. Về mặt thực tiễn tư pháp, trong vụ United States v. Currens 290, F.2d 751 (3rd Cir. 1961), Chánh thẩm Biggs giải thích khái niệm mens rea trên cơ sở giả thuyết rằng một người có khả năng kiểm soát hành vi của mình và có khả năng lựa chọn giữa nhiều cách ứng xử khác nhau[15]. Giải thích này khá đồng nhất với nhận thức của nhiều học giả Việt Nam cho rằng: “Yếu tố ý chí thể hiện chủ thể có năng lực kiểm soát và điều khiển được các ứng xử của mình”[16]. Chính sách chung của luật hình sự Hoa Kỳ thể hiện thông qua BLHS mẫu, trừ các trường hợp trách nhiệm tuyệt đối, đòi hỏi đối với mỗi yếu tố vật chất của tội phạm có thể phải kèm theo yếu tố lỗi được thể hiện dưới các hình thức lỗi bao gồm: thực hiện hành vi một cách có chủ tâm (intentionally, purposefully), có nhận thức (knowingly), có sự liều lĩnh (recklessly) hoặc có sự cẩu thả (negligently)[17]. Ở Việt Nam, về mặt học thuật, người ta quan niệm: “Tính chất lỗi của hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm cùng một lúc đóng vai trò là đặc điểm (dấu hiệu) bắt buộc của tội phạm và đồng thời là điều kiện chủ quan không thể thiếu được của TNHS”[18]. Và BLHS năm 1999, cũng như Dự thảo BLHS năm 2015 đều quan niệm có bốn hình thức lỗi là cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, và vô ý do quá tự tin, vô ý do cẩu thả. Như vậy, hình thức lỗi không có nhiều sự khác biệt giữa chính sách chung của luật hình sự Hoa Kỳ và luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, quan niệm về TNHS của Việt Nam có sự gắn chặt vào yếu tố lỗi hơn so với quan niệm của Hoa Kỳ trong một chừng mực nào đó, bởi ở Hoa Kỳ, đòi hỏi về yếu tố lỗi được tiết giảm đối với TNHS tuyệt đối. Theo Common Law, trách nhiệm nghiêm khắc (strict liability) không cần thiết có yếu tố tinh thần cụ thể, chẳng hạn lái xe đâm chết người trong tình trạng ngủ gật (tình trạng không có ý thức và đã có án lệ theo Common Law). Các tội phạm do luật định (malum prohibitum) thường không yêu cầu bất kỳ một yếu tố ý định (ý chí) phạm tội cụ thể nào[19]. Mấy thập kỷ gần đây, pháp luật Úc căn cứ vào yếu tố lỗi chia tội phạm thành ba loại: (1) các tội phạm có ý định phạm tội (offences of mens rea); (2) các tội phạm có trách nhiệm nghiêm khắc (offences of strict liability); và (3) các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối (offences of absolute liability). Đối với các tội phạm có trách nhiệm nghiêm khắc, việc truy tố không cần chứng minh lỗi của người bị truy tố, nhưng người này phải chứng minh về sự cẩn trọng hợp lý của mình. Còn đối với các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối, thì việc truy tố không phải chứng minh lỗi của người bị truy tố và người này bị loại bỏ việc chỉ ra bằng chứng về sự cẩn trọng[20]. Điều đó có nghĩa là đối với các tội phạm có trách nhiệm nghiêm khắc và các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối chỉ cần yếu tố actus reus là đủ để truy tố. Điều 11, BLHS Úc năm 2002 thể hiện phần nào linh hồn của cách phân loại tội phạm như trên với các quy định:

“(1) Một tội phạm bao gồm các yếu tố vật chất và các yếu tố lỗi.

(2) Tuy nhiên, luật mà định ra tội phạm nào đó có thể quy định rằng không có yếu tố lỗi đối với một vài hoặc tất cả các yếu tố vật chất.

(3) Luật mà định ra tội phạm nào đó có thể quy định các yếu tố lỗi khác nhau cho những yếu tố vật chất khác nhau”.

Nếu với giải pháp phân loại tội phạm căn cứ vào yếu tố lỗi như trên thì việc truy cứu TNHS pháp nhân về những tội mà không cần yếu tố mens rea không phải là vấn đề lớn, nhưng không thể bao quát tất cả các hành vi vi phạm của pháp nhân. Vì vậy, cần phải tìm kiếm thêm lý do từ trong chính nội tại của pháp nhân.

Khi nói đến người trong đời thường nghĩa là nói tới thể nhân hay tự nhiên nhân có cơ thể sinh lý và có ý thức. Thế nhưng “người” theo quan niệm pháp lý là chủ thể của các quyền và có một đời sống pháp lý, bao gồm thể nhân (con người thể chất) và pháp nhân (con người pháp định). Bởi vậy, Quyển thứ nhất của Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp năm 1804 nói về người bao gồm cả hai loại người này. Cũng như vậy, BLDS Bắc Kỳ năm 1931 và BLDS Trung Kỳ năm 1936 của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc cũng có Quyển thứ nhất nói về người bao gồm cả thể nhân và pháp nhân. Hiện nay, một số chuyên gia luật hình sự của Việt Nam khi đọc bất kỳ điều luật nào của bất kỳ đạo luật hình sự nào mà mô tả hành vi phạm tội theo kiểu viết “Người nào…” thì đều hiểu từ “người nào” ở đó là chỉ thể nhân, vì họ không nghĩ đến khái niệm người theo pháp lý bởi họ không quan niệm rằng, pháp nhân (con người pháp định) cũng bị truy cứu TNHS.

Phần nhiều học liệu về pháp luật ở Việt Nam hiện nay quan niệm pháp nhân là một con người giả tưởng. Pháp nhân không có một cơ thể sinh lý là sự thật. Nhưng thế giới không chỉ có một quan niệm pháp nhân là một giả tưởng pháp lý. Từ xưa đã xuất hiện hai học thuyết về pháp nhân – đó là học thuyết giả tưởng và học thuyết thực tại về pháp nhân. Học thuyết giả tưởng cho rằng, chỉ có con người tự nhiên mới có nhân tính và ý chí, mới là chủ thể của các quyền hay chủ thể của pháp luật, do đó, xem tổ chức hay đoàn thể có tư cách pháp nhân là chủ thể giả tưởng của pháp luật, mô phỏng vị trí pháp lý của thể nhân, dẫn đến hệ quả logic là coi sự tồn tại của pháp nhân phụ thuộc vào ý chí của nhà làm luật. Khác thế, học thuyết thực tại về pháp nhân ra đời sau này, khi thương mại và công nghiệp phát triển với rất nhiều tổ chức kinh doanh, khẳng định pháp nhân là những thực tại không kém gì thể nhân và có ý chí, nên phải là chủ thể của các quyền hay chủ thể của pháp luật, do đó dẫn đến quan niệm pháp nhân không phải là sự tạo lập của nhà làm luật mà là một thực tại buộc pháp luật phải thừa nhận. Học thuyết này được chia thành hai trường phái: (1) Trường phái tâm lý xã hội cho rằng, pháp nhân được coi là một cơ thể gồm các tế bào là các thành viên của nó mà đã mất hết cá nhân tính vì lợi ích chung của pháp nhân, và bản thể của con người không phải ở phần thể xác mà ở phần ý chí, nên một đoàn thể có ý chí tập thể phải được coi là pháp nhân; (2) trường phái thực tại kỹ thuật cho rằng, nhân tính có thể được xem xét tách rời với cơ thể sinh lý (ví dụ: nô lệ đã từng không phải là chủ thể của các quyền; nhưng ngày nay, bào thai đã được hưởng quyền thừa kế), và nhân tính chỉ là khả năng trở thành chủ thể của các quyền vì ý chí không phải là điều kiện của nhân tính (ví dụ: người tâm thần và vị thành niên không có ý chí mà vẫn có nhân tính), và trung tâm của pháp luật là các quyền lợi của cá nhân và tập thể, nên nhà làm luật không thể tạo ra pháp nhân mà chỉ có thể kiểm soát chúng. Toà án của Pháp đã hướng về trường phái thực tại kỹ thuật để giải thích khái niệm pháp nhân qua một bản án của Phòng dân sự ngày 8/1/1954 rằng: “Nhân tính không phải là một sự sáng tạo của luật lệ. Mỗi một đoàn thể có một sự phát biểu tập thể để bảo toàn những lợi ích hợp pháp, đáng được pháp luật công nhận và bảo vệ, đều có tư cách pháp nhân”[21]. Ngày nay, phần nhiều các nước đều thừa nhận pháp nhân có thể có một thành viên, nhiều thành viên hoặc không thành viên. Nhưng dù ở dạng nào thì pháp nhân vẫn luôn luôn được xem là một thực thể có khả năng biểu lộ ý chí riêng của mình, thiết lập các hành vi pháp lý và phải gánh chịu những chế tài đối với những vi phạm. Ở nước ta hiện nay, trong lĩnh vực luật hành chính, pháp nhân cũng bị xử phạt VPHC như thể nhân với quan niệm VPHC là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa tới mức bị coi là tội phạm. Nhiều tội phạm, theo luật hình sự Việt Nam, trong cấu thành của nó có dấu hiệu bắt buộc là người phạm tội đã bị xử phạt VPHC.

Các nghiên cứu ở trên cho thấy, pháp nhân có thể có ý chí phạm tội không những được khẳng định ở lý luận mà đã được khẳng định thông qua thực tiễn lập pháp và tư pháp. Pháp nhân giống như thể nhân về phương diện pháp lý, có sản nghiệp riêng, có tên gọi, có quốc tịch, có cư sở, có trách nhiệm và các quyền dân sự khác, trừ một số quyền chỉ gắn với thể nhân như các quyền lợi về gia đình, bầu cử…[22]. Tuy nhiên, pháp nhân được vận hành thông qua cơ cấu nội bộ của nó hướng tới những lợi ích nhất định. Do đó, mọi mục tiêu, phương hướng hoạt động, cơ chế ra quyết định, kiểm tra, giám sát nội bộ, cách thức tiến hành công việc, mong muốn kết quả đạt được… đều có thể giải thích được xung quanh các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của pháp nhân thể hiện qua các hình thức vật chất như văn bản (ký tự), lời nói hay cử chỉ của những người hay cơ quan có thẩm quyền của pháp nhân hoặc của những người (thể nhân hay pháp nhân khác) có khả năng chi phối pháp nhân, cũng như thói quen ứng xử bên trong, bên ngoài của pháp nhân…

Pháp nhân hoàn toàn có thể thực hiện các hành vi vật chất của tội phạm. Các nền tài phán hiện nay thường sử dụng câu châm ngôn tiếng Latin: “Quy facit per alium, facit per se”[23], có nghĩa là người nào hành động qua một trung gian là hành động bởi chính mình. Vì vậy, khi một người sử dụng một con chó để lấy trộm đồ vật của người khác, anh ta đã phạm tội trộm cắp. Hay các công ty có thể sử dụng hệ thống nhân viên của mình, sử dụng máy bán hàng tự động hay ngân hàng sử dụng ATM… để thu lợi ích về cho mình.

Tuy vậy, hiện nay nhiều học giả Việt Nam vẫn cho rằng, pháp nhân không thể là chủ thể của tội phạm mà chỉ có thể là chủ thể của TNHS, còn chủ thể của tội phạm chỉ có thể là thể nhân liên quan tới pháp nhân vi phạm[24]. Quan niệm này sẽ rất khó có khả năng giải quyết đúng đắn vụ án ví dụ như sau: Một công ty nhiều thành viên[25] bỏ phiếu kín thông qua nghị quyết với 70% phiếu thuận xả chất thải công nghiệp chưa qua xử lý ra môi trường và làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường, gây thiệt hại lớn cho cư dân xung quanh, trong khi đó đại diện theo pháp luật là người làm thuê cho công ty. Nếu chỉ bắt người đại diện theo pháp luật (trực tiếp chỉ huy việc xả thải để thực hiện nghị quyết này) phải chịu TNHS với tính cách là chủ thể của tội phạm thì vấn đề đặt ra là những kẻ chủ mưu, cầm đầu sẽ được hưởng lợi từ hành vi đó. Tuy nhiên,  không thể bắt tất cả các thành viên của công ty phải chịu TNHS với tính cách là chủ thể của tội phạm được, bởi trong số đó có người bỏ phiếu chống. Nhưng nếu không có thái độ trừng phạt nghiêm khắc đối với pháp nhân với tính cách là chủ thể của tội phạm và là kẻ chủ mưu, cầm đầu thì chính sách hình sự bị phá vỡ. Lưu ý rằng, TNHS đối với pháp nhân áp dụng cho cả các pháp nhân nước ngoài phạm tội, nên không thể luận giải pháp nhân chỉ theo pháp luật Việt Nam. Và cần lưu ý thêm nữa rằng: hiện nay, ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đã quy định pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật; và điều lệ của pháp nhân có thể quy định một vài hoặc đa số trong số những đại diện đó chấp thuận thì giao dịch hay hành vi nào đó mới có hiệu lực thi hành. Quan niệm chỉ xem pháp nhân là chủ thể của TNHS hay không phải là chủ thể của tội phạm cứ “lấn cấn” xung quanh câu chuyện pháp nhân có lý trí và ý chí hay không để xác định yếu tố lỗi. Nguyễn Ngọc Hòa đã luận giải: lỗi phản ánh sự phủ định chủ quan có ý nghĩa như là nguyên nhân chủ quan của các hành vi nguy hiểm cho xã hội (phản ánh sự phủ định khách quan các đòi hỏi của xã hội); do có nguyên nhân chủ quan này mà biện pháp TNHS có tác dụng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, răn đe, giáo dục người phạm tội[26]. Từ đây có thể suy luận: các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của tội phạm có tính mục đích ở tầng thứ nhất là xác định tội phạm trong những trường hợp phạm tội cụ thể, nhưng nhằm tới mục đích cao hơn ở tầng thứ hai là đấu tranh phòng, chống đối với các tội phạm nói chung. Vì vậy đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn không thể không là sự lựa chọn cao hơn? Hiểu rằng, bất kỳ một học thuyết hay hành vi quản lý xã hội nào đều gay cấn nhất ở việc cân đối giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng. Tuy nhiên, việc lựa chọn lợi ích nào cao hơn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và từng trường hợp cụ thể (ví dụ hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai hay chống khủng bố và trường hợp mặc trang phục burkini ở bãi biển có sự lựa chọn khác nhau). Luật hình sự là một ngành luật gặp nhiều khó khăn nhất trong việc cân đối giữa cá nhân và cộng đồng (bảo vệ cộng đồng trước sự xâm hại của tội phạm hay bảo đảm an toàn pháp lý cho người bị tình nghi là phạm tội). Nhưng xét rằng ở Việt Nam hiện nay pháp nhân thậm chí còn trở thành một phương thức hay thủ đoạn phạm tội rất nguy hiểm (một ví dụ thường gặp nhất là thành lập công ty ma để trục lợi hay ngụy tạo cho một hành vi phạm tội khác) và ngày một gia tăng. Mức độ gia tăng của tội phạm liên quan tới pháp nhân rất đáng báo động, đang đe dọa đời sống chung của cộng đồng[27]. Do đó, chúng ta cần xây dựng chế định TNHS pháp nhân và coi pháp nhân là một chủ thể của tội phạm như thể nhân đối với tất cả các loại tội. Việc xây dựng chế định này còn là bắt buộc trong việc thực thi các cam kết quốc tế chống các tội phạm có tổ chức và các cam kết quốc tế khác.

II. Cần quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân như thế nào?

Xuất phát từ chức năng bảo vệ của luật hình sự, không có lý do gì để từ chối đưa ra các giải pháp bảo vệ cộng đồng trước sự xâm hại của tội phạm và ghi nhận sự phản ứng của xã hội đối với tội phạm trong đạo luật hình sự. Sự phản ứng này xét về mặt học thuật liên quan những câu hỏi cơ bản như: Những hành vi nào được xem là tội phạm? Ai có thể là chủ thể của những tội phạm đó? Những tội phạm đó được thực hiện như thế nào? Nguyên nhân nào làm phát sinh ra từng tội phạm đó? Làm thế nào để giảm, triệt tiêu hay bảo vệ cộng đồng một cách hữu hiệu trước những tội phạm như vậy?… BLHS năm 2015 đã có những quy định không làm thỏa mãn nhu cầu của xã hội trong việc trả lời những câu hỏi trên. Vì vậy, mục này chỉ kiến nghị trực tiếp vào bộ luật này một số vấn đề lớn về chế định TNHS pháp nhân nhằm góp phần thể hiện đúng sự phản ứng của xã hội đối với các hành vi nguy hiểm do pháp nhân gây ra.

1. Có nên chỉ truy cứu TNHS pháp nhân thương mại liên quan tới một số loại tội phạm hay không?

Thuật ngữ pháp nhân thương mại được hình thành trên cơ sở phân loại pháp nhân theo ngành luật. Các nước theo truyền thống Civil Law[28] thường phân loại pháp nhân thành pháp nhân công pháp và pháp nhân tư pháp, có nghĩa là pháp nhân được thành lập theo luật công và pháp nhân được thành lập theo luật tư. Tới lượt chúng, pháp nhân tư pháp được phân loại thành pháp nhân dân sự và pháp nhân thương mại. Ở các nước có sự phân biệt giữa luật dân sự và luật thương mại thường kéo theo sự phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân (người thường), và phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại (có nghĩa là hành vi pháp lý có tính chất dân sự và hành vi pháp lý có tính chất thương mại[29]). Thương nhân thường được hiểu là người chuyên tiến hành các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp của mình, có nghĩa là muốn trở thành thương nhân cần có hai điều kiện: một là, chuyên tiến hành các hành vi thương mại (điều kiện cần); và hai là, lấy hành vi thương mại làm nghề nghiệp của mình (điều kiện đủ)[30]. Và thương nhân được chia thành hai loại là thương nhân thể nhân (cá nhân kinh doanh) và thương nhân pháp nhân (công ty).

Tới đây xuất hiện nhiều lý do về việc không thể quy định chỉ truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại:

Thứ nhất, có nhiều truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới nên có các cách thức phân loại pháp luật khác nhau. Chẳng hạn ở các nước theo truyền thống Common Law[31], ở các nước theo truyền thống Sovietique Law, và ở nhiều nước có hệ thống pháp luật tập quán, cũng như ở nhiều nước có hệ thống pháp luật pha trộn không có sự phân chia pháp luật thành luật dân sự và luật thương mại. Kể cả ở một số nước theo truyền thống Civil Law cũng không có sự phân biệt giữa thương nhân và phi thương nhân, ví dụ như ở Hà Lan. Trong khi đó BLHS Việt Nam năm 2015 tại khoản 2, Điều 6 quy định truy cứu “pháp nhân thương mại” nước ngoài. Nếu pháp nhân bị truy cứu đó có quốc tịch ở quốc gia mà không có sự phân chia pháp nhân như ở Việt Nam thì vấn đề sẽ trở nên khó giải thích.

Thứ hai, BLDS năm 2015 có nhiều điểm sai trong các quy định về pháp nhân thương mại, nên không thể dựa vào đó để giải thích khái niệm pháp nhân thương mại được quy định trong BLHS năm 2015, dù pháp nhân thương mại này có quốc tịch Việt Nam. Khoản 1, Điều 75 BLDS năm 2015 loại bỏ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ra khỏi pháp nhân thương mại bởi quy định: “Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên”. Quy định này yêu cầu pháp nhân thương mại phải có nhiều thành viên, và không yêu cầu pháp nhân thương mại phải tiến hành các hành vi thương mại, cũng như tiến hành đăng ký kinh doanh để biến các hành vi thương mại thành nghề nghiệp của pháp nhân thương mại. Lưu ý, thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh và nếu không đăng ký hay chưa đăng ký kinh doanh có thể được xem là thương nhân thực tế với nhiều hậu quả pháp lý khác biệt, chẳng hạn: đối với công ty thì không được xem là có tư cách pháp nhân, và các thành viên của nó phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định với các khoản nợ. Vấn đề này hiện nay ở Việt Nam có các quy định mâu thuẫn với nhau. Luật Doanh nghiệp năm 2014 nghiêm cấm công ty chưa đăng ký kinh doanh mà đã tiến hành kinh doanh (Khoản 3, Điều 17). Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 chấp nhân thương nhân thực tế với quy định là nếu chưa đăng ký kinh doanh thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động theo luật này và các quy định pháp luật khác (Điều 7). Quy định của Luật Thương mại năm 2005 gần gũi với quan niệm của pháp luật hầu hết các nước trên thế giới (chẳng hạn ở Hoa Kỳ có quan niệm về “de facto corporation” để bảo vệ người thứ ba ngay tình quan hệ với công ty mà không biết những tỳ ố về công ty đó). Khoản 2, Điều 75 BLDS năm 2015 đã coi doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh là các pháp nhân với quy định: “Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác”. Khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 bao gồm doanh nghiệp tư nhân và các công ty mà trong đó doanh nghiệp tư nhân có bản chất là cá nhân kinh doanh, không có tư cách pháp nhân. Các tổ chức kinh tế theo pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm cả hộ kinh doanh. Loại tổ chức kinh tế này có ba loại là được thành lập bởi một người, được thành lập bởi một hộ gia đình, được thành lập bởi một nhóm người và đều không có tư cách pháp nhân.

Vì các lẽ nêu trên, chúng tôi có kiến nghị: BLHS năm 2015 cần sửa đổi theo hướng truy cứu TNHS pháp nhân nói chung với một số loại, trừ đối với pháp nhân là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị và chính trị – xã hội, cũng như các tổ chức tự quản ở địa phương. Quy định như vậy tránh sự giải thích pháp nhân thương mại theo pháp luật Việt Nam và theo pháp luật nước ngoài mà có thể dẫn đến những phức tạp lớn trong việc điều tra, truy tố và xét xử[32], đồng thời bao quát được cả các loại khác như hợp tác xã, doanh nghiệp xã hội bị lạm dụng như là một phương thức hay thủ đoạn phạm tội. Tuy nhiên, cần mở rộng hình thức tổ chức được coi là pháp nhân như Điều 51 BLHS năm 1976 hiện hành của Hà Lan được dẫn tại Mục I ở trên, bởi có nước không coi công ty hợp danh là có tư cách pháp nhân và quy định như vậy bao quát được các dạng hợp tác kinh doanh khác. Hơn nữa, cần phải học kinh nghiệm của Hà Lan quy định những khiếm khuyết trong việc thành lập pháp nhân hay trong cấu trúc pháp nhân, cũng như chấm dứt hay thanh lý pháp nhân không loại trừ TNHS của pháp nhân[33] bởi pháp nhân tư pháp có bản chất là một hành vi pháp lý và cũng bị vô hiệu do vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý (mà BLDS năm 2015 gọi một cách thiếu thỏa đáng là giao dịch dân sự), đồng thời việc truy cứu trách nhiệm những pháp nhân như vậy góp phần bảo vệ những người thứ ba ngay tình. Cần đặc biệt lưu ý rằng, pháp nhân nước ngoài hoàn toàn có thể phạm tội trong lãnh thổ Việt Nam, cho nên cần quy định thêm vào Điều 5 BLHS năm 2015 về hiệu lực của bộ luật này đối với pháp nhân nước ngoài phạm tội trong lãnh thổ Việt Nam.

Việc truy cứu TNHS pháp nhân đối với tất cả các loại tội phạm là cần thiết không chỉ dừng lại ở các tội có liên quan đến kinh tế bởi như đã trình bày ở trên, pháp nhân có thể có ý chí phạm tội và có thể thực hiện được hành vi vật chất của tội phạm. Pháp nhân hoàn toàn có thể phạm những tội có lỗi vô ý và giữ các vai trò khác nhau trong một vụ đồng phạm.

2. Có nên định nghĩa tội phạm trong BLHS năm 2015 hay không?

BLHS năm 2015 vẫn đang mang dung mạo của mô hình Sovietique Law, lấy tiền đề từ khái niệm tội phạm và thiết kế các quy định khác xoay quanh hay phát triển logic từ khái niệm này. Có lẽ, do băn khoăn pháp nhân là con người giả tưởng không có tâm lý bên trong để xác định lỗi, nên người soạn thảo đã không coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm mà chỉ coi là chủ thể của TNHS. Vì vậy, cần phải xem xét lại định nghĩa tội phạm trong BLHS năm 2015[34]. Phần nhiều BLHS các nước trên thế giới không có định nghĩa về tội phạm như BLHS năm 2015 của Việt Nam. Ngay cả Trung Quốc, không tuyên bố từ bỏ mô hình BLHS theo kiểu Sovietique Law, nhưng họ cũng không định nghĩa tội phạm theo mô hình này với đầy đủ các dấu hiệu về khách thể, chủ thể, khách quan, và chủ quan của tội phạm như BLHS năm 2015 của Việt Nam. Điều 13 BLHS năm 1997 của Trung Quốc có định nghĩa về tội phạm nhưng chỉ nói rõ tội phạm là các hành vi gây nguy hiểm cho các khách thể mà luật hình sự bảo vệ và loại trừ các hành vi có mức độ nguy hiểm thấp và hậu quả không đáng kể.

Việc định nghĩa tội phạm theo kiểu học thuật tại Điều 8 BLHS năm 2015 là không thích hợp, bởi khẳng định ngay một quan điểm học thuật mà không dự liệu khoảng mềm cho sự phát triển học thuật và phản ánh sự biến động của xã hội. Như trên đã trình bày, không phải tội phạm nào cũng phải đặt ra yếu tố lỗi khi truy tố. Hơn nữa, thông qua từng tội phạm được quy định cụ thể cùng với các định nghĩa về từng yếu tố của tội phạm trong các điều luật khác nhau như các nước vẫn quy định, người ta có thể rút ra được giải pháp để đấu tranh với tội phạm đó. Vì vậy, nên bỏ Điều 8 BLHS năm 2015 hoặc sửa theo hướng quy định rất ngắn gọn xác định tội phạm là hành vi nguy hiểm (liệt kê hoặc không liệt kê khách thể mà tội phạm xâm hại) được quy định tại Bộ luật này và các đạo luật khác. Việc định nghĩa như vậy sẽ khiến chúng ta dễ dàng hơn trong việc phát triển logic của bộ luật và không sa lầy vào sự tranh cãi học thuật về mặt chủ quan của pháp nhân phạm tội.

3. Kiến nghị tổng quát

Mô hình BLHS theo kiểu Sovietique Law thể hiện rõ nét nhất các thành tựu của khoa học luật hình sự Xô viết. Tuy nhiên, nền khoa học này không chấp nhận khái niệm TNHS pháp nhân. Vì vậy, mô hình BLHS theo trường phái này xây dựng theo một kết cấu logic chỉ dùng cho truy cứu TNHS thể nhân. Chẳng hạn cách phân loại tội phạm để xây dựng các khung hình phạt tương ứng của mô hình này khác với thế giới còn lại, mà trong phần lớn thế giới còn lại này chủ yếu phân loại tội phạm thành trọng tội và khinh tội trên nền tảng quan niệm từ thời La Mã cổ đại rằng, tội phạm có hai loại là “malum in se” (tội phạm do bản chất) và “malum prohibitum” (tội phạm do luật định) và được thể hiện về mặt hình thức thành trọng tội và khinh tội, mặc dù sự thể hiện này có thể không hoàn toàn trùng khít. Ngày nay, nhiều nền tài phán còn có thể có thêm tội vi cảnh. Lưu ý, trước kia Việt Nam cũng hoàn toàn phân loại tội phạm thành trọng tội và khinh tội. Cách thức phân loại tội phạm theo kiểu Xô viết chỉ dùng cho thể nhân phạm tội, rất khó sử dụng để phân loại tội phạm do pháp nhân phạm tội. Vì vậy, Việt Nam chỉ nên lựa chọn những điểm nào phù hợp với hiện tại của mô hình BLHS theo kiểu Xô viết để xây dựng BLHS năm 2015. Và cuối cùng, chúng ta phải có cái nhìn tổng thể cả hệ thống pháp luật, có nghĩa là phải xây dựng được mô hình hệ thống pháp luật để bảo đảm sự đồng bộ của pháp luật./.

 


[1] Các tội phạm này đòi hỏi đấu tranh bằng việc ấn định TNHS cho pháp nhân và được rất nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước nhắc tới; có công trình chỉ nhắc tới một vài tội phạm trong số này và cũng có công trình nhắc tới hầu hết các tội phạm này hoặc có thể nhiều hơn thế. Ví dụ: Bộ Tư pháp (2015), Chuyên đề 2 – Những điểm mới cơ bản của quy định TNHS đối với pháp nhân trong Dự thảo BLHS (sửa đổi), Trang điện tử Ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 19/08/2015; Anca Iulia Pop (2006), Criminal Liability of Corporations – Comparative Jurisprudence, Michigan State University School of Law, p. 2.

[2] OECD (2015), Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia, p. 12.

[3] Pavel Biriukov (2015), Criminal liability of legal persons in EU- countries, Voronezh, VSU Publishing House, p. 12.

[4] Organisation for Economic Co-operation and Development – Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế. Tổ chức này có nhiệm vụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng và phát triển bền vững.

[5] OECD (2015), Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia, pp. 12 – 13.

[6] Edward B. Diskant (2008), “Comparative Corporate Criminal Liability: Exploring the Uniquely American Doctrine Through Comparative Criminal Procedure” (pp. 126 – 176), The Yale Law Journal, p.129.

[7] Giải thích nguyên tắc “Societas delinquere non potest” nguyên văn tiếng Anh như sau: “A legal person cannot have a mind of its own and cannot therefore have criminal intent” [Linguee, Dictionary German – English, http://www.linguee.com/english-german/translation/societas+delinquere+non+potest.html%5D.

[8] Kermit L. Hall (2002), “Criminal Law”, (pp. 185 – 187), The Oxford Guide American Law, Oxford University Press, p. 186.

[9] Markus Dirk Dubber, “The Promise of German Criminal Law: A Science of Crime and Punishment”, German Law Journal, Vol. 06 No. 07., (pp. 1049- 1072), pp. 1049- 1050.

[10] Kermit L. Hall (2002), “Criminal Law”, (pp. 185 – 187), The Oxford Guide American Law, Oxford University Press, p. 186.

[11] Có thể hiểu chung là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[12] Nguyễn Huy Chiểu (1975), Hình luật, Sài Gòn, tr. 10. Yếu tố bất công ở đây giống với vấn đề loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

[13] Sử dụng các thuật ngữ “trách nhiệm thay thế” và “học thuyết đồng nhất hóa” theo người dịch đầu tiên các thuật ngữ “vicarious liability” và “indentification theory” ra tiếng Việt. Hoàng Trí Ngọc (2015), “Một số vấn đề lý luận về TNHS của pháp nhân” (tr. 37 – 44), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 23(303)/ Kỳ 1 – Tháng 12/2015, tr. 39 & 41.

[14] OECD (2015), Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia, p. 12.

[15] C.M.V. Clarkson and H.M. Keating (1990), Criminal Law: Text and Materials, Second Edition, Sweet & Maxwell, p. 149.

[16] Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 199.

[17] Deluxe Black’s Law Dictionary, Sixth Edition, St. Paul, Minn. West Publishing Co. 1990, “Culpability”, p. 379.

[18] Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 417.

[19] Steven H. Gifis (1991), Law Dictionary, Third Edition, Barron’s Education Series, INC, “Mens rea”, p. 296. Nguyên văn tiếng Anh: “Crimes that are malum prohibitum often do not requyre any specific mens rea”.

[20] Peter Gillies (1993), Criminal Law, Third Edition, The Law Book Company Limited, Canada, USA, Hong Kong, Singapore, United Kingdom, Malaysia, p. 77.

[21] Đoạn viết về các học thuyết pháp nhân này được tóm lược từ các tài liệu sau: Philippe Merle, Droit Commercial- Sociétés commerciales, Précis Dalloz,1992, p.79-80; Trần Văn Liêm, Dân luật, Sài gòn,1972, tr. 298-302; Xaca Vacaxeum &Tori Aritdumi, Bình luận khoa học BLDS Nhật Bản, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 65-66; Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ và Nguyễn Tân, Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, Quyển II, Sài Gòn, 1973, tr. 681- 682; Trần Văn Liêm, Dân luật, Sài Gòn, 1972, tr. 302.

[22] Xem thêm Ngô Huy Cương (2015), “Bình luận các quy định về pháp nhân trong Dự thảo BLDS (sửa đổi)”,Tạp chí Dân chủ và Pháp luật – Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung BLDS, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2015, tr. 38 – 49.

[23] Lưu ý: Câu châm ngôn này là nguyên tắc pháp lý dường cột của chế định agency ở các nước theo truyền thống Common Law và được ứng dụng trong các chế định đồng phạm ở các nền tài phán khác nhau. Chữ “alium” có nghĩa là “củ tỏi” theo từ điển Latin – Anh mang tên “Collins Latin Dictionary Plus Grammar” xuất bản tại Harper Collins Publishers năm 1997 tại Anh Quốc, tr. 11, tra từ alium.

[24] Xem Lê Văn Cảm (2016), Khái niệm tội phạm (Điều 8) & đồng phạm (Điều 17) trong BLHS năm 2015: Nghiên cứu vấn đề đối với pháp nhân thương mại & đề xuất hoàn thiện các điều luật này, Tọa đàm “TNHS đối với pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015, Hà Nội, ngày 05/9/2016; Nguyễn Ngọc Hòa (2016), “Khái niệm tội phạm và việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại trong BLHS Việt Nam năm 2015” (tr. 3 – 13),Tạp chí Luật học, Số 2/2016, Trường Đại học Luật Hà Nội.

[25] Công ty này có thể là công ty đối vốn hoặc đối nhân.

[26] Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008 tr. 22.

[27] Xem thêm Bộ Tư pháp (2015), Chuyên đề 2 – Những điểm mới cơ bản của quy định TNHS đối với pháp nhân trong Dự thảo BLHS (sửa đổi), Trang điện tử Ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 19/08/2015.

[28] Có thể hiểu chung là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa.

[29] Hành vi pháp lý bao gồm hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương.

[30] Lấy hành vi thương mại làm nghề nghiệp thể hiện qua việc đăng ký kinh doanh (một hành vi hành chính tư pháp theo đúng nghĩa).

[31] Có thể hiểu chung là hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.

[32] Lưu ý hiện nay có nhiều nước quy định theo cách này để không đụng chạm gì tới nhà nước.

[33] Houthoff Buruma (2008), Criminal liability of companies, Lex Mundi Publication, p. 2.

[34] Xem thêm Lê Văn Cảm (2016), Khái niệm tội phạm (Điều 8) & đồng phạm (Điều 17) trong BLHS năm 2015: Nghiên cứu vấn đề đối với pháp nhân thương mại & đề xuất hoàn thiện các điều luật này, Tọa đàm “TNHS đối với pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015, Hà Nội, ngày 05/9/2016; Nguyễn Ngọc Hòa (2016), “Khái niệm tội phạm và việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại trong BLHS Việt Nam năm 2015” (tr. 3 – 13),Tạp chí Luật học, Số 2/2016, Trường Đại học Luật Hà Nội.


Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Trịnh Quốc Toản, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, Số 1 (2013) 60-73

Tóm tắt: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề không quá mới mẻ trong khoa học pháp lý hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên đến nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa ghi nhận năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm của pháp luật hình sự nước ta. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự, đồng thời xây dựng mô hình lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành.

 

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s