60. Công ty TNHH hai thành viên trở lên trong môi trường kinh doanh hiện nay

Tác giả: Nguyễn Vinh Hưng, TS. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 6/10/2016

Hoạt động của các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên đang khẳng định ưu điểm của loại hình doanh nghiệp này, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Liệu loại hình công ty này có phù hợp với nền kinh tế, thương mại nước ta? Cần thiết phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu về công ty TNHH hai thành viên trở lên, để từ đó xác định hướng phát triển và cách thức vận hành phù hợp hơn với môi trường thương mại hiện nay. 

  1. Ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Khác với đa số các loại hình công ty, công ty TNHH hai thành viên trở lên hoàn toàn là sản phẩm của quá trình lập pháp. Nhiều người cho rằng: “Mô hình công ty cổ phần không thích hợp với các nhà đầu tư vừa và nhỏ. Các quy định quá phức tạp trong luật công ty cổ phần không cần thiết cho loại công ty vừa và nhỏ, có ít thành viên và thường là họ quen biết nhau. Còn chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư”[1]. Có lẽ là từ những quan niệm trên, loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên được xây dựng với sự kế thừa từ các ưu điểm kết hợp của công ty cổ phần và công ty hợp danh.

Mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên được du nhập vào Việt Nam và được quy định chính thức kể từ Luật Công ty năm 1990. Tuy nhiên, từ Luật Công ty năm 1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật vẫn không có định nghĩa cụ thể về công ty TNHH hai thành viên trở lên, mà luật chỉ nêu ra các đặc điểm của loại hình công ty này. Có người cho rằng: “Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp có từ 02 đến 50 thành viên góp vốn và chịu TNHH về khoản vốn góp”[2], hay “đây là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình”[3].

Theo Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty TNHH hai thành viên trở lên có những đặc điểm cơ bản: số lượng thành viên bị khống chế không được vượt quá 50 thành viên (thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức); công ty là một pháp nhân; thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đóng góp; công ty chỉ có thể phát hành trái phiếu. Từ những đặc điểm này, công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện rõ các ưu điểm như:

Thứ nhấthạn chế rủi ro về mặt tài chính cho các thành viên

Tính chịu TNHH xuất hiện từ lâu đời trong lệ của người buôn bán và lệ dần được ghi nhận thành luật[4]. TNHH thường được hiểu đó là nghĩa vụ của cổ đông hay của thành viên sẽ phải trả các khoản nợ của công ty, được giới hạn chỉ trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. TNHH còn được hiểu là: “tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp”[5]. Giới kinh doanh khá ưa thích về chế độ TNHH, bởi đây là bảo đảm an toàn các rủi ro tài chính cho họ.

Là công ty kết hợp giữa các yếu tố của cả công ty đối vốn và công ty đối nhân, nhưng tính chất “đối vốn” của công ty TNHH hai thành viên trở lên được thể hiện rõ nét hơn. Tên gọi của công ty này thể hiện rất rõ điều đó khi cụm từ “TNHH” vốn là đặc trưng rất cơ bản của loại hình công ty đối vốn. Nhờ vào tính chịu TNHH nên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi khối tài sản của công ty. Còn đối với các thành viên của công ty, thì chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà thành viên đã góp vào công ty. Đây là nguyên tắc pháp định, tất cả thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được hưởng chế độ chịu TNHH về mặt tài chính. Cơ chế TNHH tách bạch rõ ràng tài sản góp vào công ty với tài sản dân sự của thành viên.

Thứ haivề sự đồng thuận của các thành viên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên còn mang các đặc trưng của hình thức công ty đối nhân. Điều đó biểu hiện qua số lượng thành viên của công ty này khá ít. Hay việc chuyển nhượng phần vốn của thành viên bị hạn chế và giữa các thành viên thường có mối quan hệ thân thiết… Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có mối quan hệ gần gũi, tin cậy. Bản thân các thành viên luôn giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty này. Hay nói cách khác, “công ty tồn tại dựa trên sự quen biết và tin tưởng giữa các thành viên. Mối quan hệ cá nhân giữa họ là nền tảng cho công ty TNHH”[6]. Chính từ sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên nên công ty TNHH có sự đồng thuận, gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi quyết định các vấn đề của công ty sẽ dễ dàng có được sự ủng hộ, đồng tình và sự cố gắng thực hiện từ các thành viên khác. Đây là lợi thế của các loại hình công ty thuộc hình thức của công ty đối nhân mà công ty TNHH hai thành viên trở lên có được.

Thứ baviệc quản lý điều hành công ty khá đơn giản, hiệu quả 

Do số lượng thành viên khá ít nên công ty TNHH hai thành viên trở lên có cơ cấu tổ chức, quản lý điều hành khá đơn giản. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Ban Kiểm soát (chỉ trong một số trường hợp)[7]. Do cơ cấu tổ chức tương đối gọn nhẹ nên việc quản lý điều hành của công ty TNHH hai thành viên trở lên khá đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả. “Công ty TNHH hai thành viên được nhiều người ưa thích vì nó có nhiều quy định rất hay, khác với công ty vô danh (công ty cổ phần), công ty TNHH hai thành viên có bộ máy điều hành nhẹ nhàng hơn”[8]. Điều này cũng góp phần giúp cho công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể nhanh chóng, linh hoạt, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh.

Thứ tư, là loại hình công ty lý tưởng để kinh doanh trong phạm vi nhỏ hoặc vừa

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty trung gian và tiếp thu những ưu điểm của cả hai hình thức công ty đối vốn và công ty đối nhân. Công ty TNHH hai thành viên trở lên có nhiều ưu điểm khi đã khắc phục được sự phức tạp khi thành lập và việc quản lý phân tán của công ty cổ phần cũng như nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty hợp danh. Nếu so với công ty cổ phần thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có bộ máy quản lý điều hành đơn giản, gọn nhẹ. Còn so với công ty hợp danh thì thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên không phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của công ty. Có thể thấy rằng, công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình công ty có quy mô tổ chức tương đối nhỏ hoặc vừa và lại có sự bảo đảm an toàn cao về mặt tài sản cho các thành viên. Mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên khá thích hợp với các thương nhân có tư tưởng kinh doanh chỉ với quy mô nhỏ hoặc vừa và thường đòi hỏi sự tin tưởng, quen biết giữa các thành viên.

  1. Hạn chế của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Bên cạnh những ưu điểm trên, công ty TNHH hai thành viên trở lên còn tồn tại khá nhiều hạn chế.

Thứ nhấttính an toàn về mặt pháp lý khá thấp do các thành viên được hưởng cơ chế chịu TNHH về mặt tài sản

Với tính chất chịu TNHH về tài sản, các thành viên chỉ có nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi giới hạn số vốn góp. Vì vậy, trên thực tiễn kinh doanh, nhiều cá nhân, tổ chức khi làm ăn với công ty TNHH hai thành viên trở lên đều tỏ ra khá e dè, thận trọng. Bởi nếu các thành viên lợi dụng công ty để kinh doanh với mục đích gian trá thì điều đó có thể mang lại rủi ro rất lớn cho khách hàng và các chủ nợ. Khi đó, tính chịu TNHH đã trở thành bức tường che chắn cho các thành viên trước yêu cầu đòi nợ của các bạn hàng làm ăn với công ty này. “Đôi khi các công ty này chỉ là tấm bình phong để một số thương nhân sử dụng để hạn chế rủi ro. Vì thế, các chủ ngân hàng và cả người dân, khi thỏa thuận cho công ty TNHH vay mượn thường đòi hỏi sự bảo lãnh của thành viên chính của công ty”[9]. Chính vì công ty TNHH hai thành viên trở lên không có được sự đảm bảo pháp lý cao nên công ty khó có thể tìm được các nguồn vốn lớn vay từ các ngân hàng. Hạn chế này khiến công ty TNHH hai thành viên trở lên luôn chứa đựng nhiều rủi ro cho khách hàng.

Thứ haiquy mô thành viên của công ty luôn bị giới hạn

Ở nhiều quốc gia, đối với công ty TNHH, pháp luật thường giới hạn số lượng thành viên: “số thành viên tối đa của công ty TNHH ở Cộng hòa Liên bang Nga là không quá 50 người; ở Cộng hòa Nam Phi là không quá 30 người; ở Mỹ quy định tùy theo tiểu bang”[10]. Tại Việt Nam, công ty TNHH một thành viên chỉ có duy nhất 01 thành viên; công ty TNHH hai thành viên trở lên có ít nhất 02 thành viên và tối đa không được vượt quá 50 thành viên[11]. Có nhận xét cho rằng “đặt ra một số tuyệt đối (trong trường hợp này là 50) để giới hạn mức tối đa số thành viên của công ty không có sức thuyết phục về mặt lý thuyết”[12]. Bởi lẽ, “cùng với quá trình phát triển, quy mô kinh doanh của công ty được mở rộng và đa dạng thêm, do đó nhu cầu về vốn cũng tăng theo. Vì thế, mô hình công ty TNHH có thể trở nên không còn phù hợp cho sự phát triển tiếp theo của công ty”[13]. Bởi vậy, công ty TNHH hai thành viên trở lên khó có khả năng phát triển với quy mô lớn.

Thứ baviệc chuyển nhượng phần vốn góp và cơ chế thay đổi thành viên khá khó khăn

Một hạn chế lớn của công ty TNHH hai thành viên trở lên là việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên thường rất khó khăn. Sở dĩ như vậy là vì chính bản thân các thành viên giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty. Về nguyên tắc, thành viên có nhu cầu chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng vốn cho người không phải là thành viên trong trường hợp đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại và chỉ khi các thành viên còn lại này của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán[14]. Bởi lẽ, “công ty TNHH mang tính chất một công ty đối nhân, vì việc chuyển nhượng phần hội cũng cần phải được sự đồng ý của các hội viên. Mọi chuyển nhượng phần hội cho người ngoài đều phải được sự đồng ý của các hội viên”[15]. Qua đó cho thấy, việc thay đổi thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở nên khá khó khăn và phức tạp.

Thứ tưkhó khăn trong việc huy động vốn

Pháp luật quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu khi đáp ứng các điều kiện của luật định[16]. Tuy nhiên, ngay cả khi công ty được phép huy động vốn bằng phương pháp phát hành trái phiếu thì cũng phải thỏa mãn các quy định không mấy dễ dàng của pháp luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn phát hành chứng khoán[17]. Mặt khác, do số lượng thành viên của công ty bị giới hạn, nên khả năng huy động vốn của công ty luôn gặp nhiều khó khăn trên thực tế.

  1. Sự phù hợp giữa công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên với môi trường thương mại tại Việt Nam hiện nay  

Thực tế hiện nay cho thấy, tại Việt Nam, công ty TNHH (bao gồm chung cả hai loại hình công ty) là hình thức được ưa chuộng hơn cả[18]. Có thể thấy rằng, qua một số năm triển khai Luật Công ty, “các nhà đầu tư rất thích thành lập công ty TNHH. Từ sau khi có Luật Công ty đến nay, số lượng các công ty TNHH nhiều hơn hẳn các công ty cổ phần”[19]. Đây có lẽ là tín hiệu rất đáng mừng đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Việt Nam, khẳng định loại hình công ty này phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, loại hình công ty này vẫn còn khiến nhiều nhà đầu tư và công chúng lo ngại vì những lý do sau:

– Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là hướng tới lợi nhuận. Vì mục tiêu lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh doanh với bất cứ giá nào, có thể gây ảnh hưởng tới lợi ích của các doanh nghiệp khác và thậm chí phương hại tới lợi ích quốc gia[20]. Trong nhiều năm qua, đã có không ít trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thiếu trách nhiệm, gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Đối chiếu với công ty TNHH hai thành viên trở lên thì do chỉ phải chịu TNHH, hay nói cách khác, “nó chỉ có nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi có giới hạn (khi bị phá sản), nên rất dễ gây ra rủi ro cho bạn hàng”[21]. Bức tường TNHH tuy hạn chế được rủi ro cho các thành viên nhưng cũng vì vậy, nó đã dồn một phần rủi ro rất lớn cho khách hàng và các chủ nợ. Trong trường hợp công ty bị vỡ nợ, khách hàng và chủ nợ chỉ có thể đòi công ty và chỉ có thể được thanh toán một phần từ khối tài sản riêng của công ty, “mà không thể buộc thành viên công ty mang tài sản cá nhân để liên đới trả nợ thay cho công ty. Khi làm ăn với công ty TNHH, khách hàng có nhiều lý do để cẩn trọng”[22]. Ngoài ra, cần phải khẳng định, hiện nay đạo đức kinh doanh của một số chủ kinh doanh vẫn chưa được đề cao. Chính vì vậy, dễ dẫn đến “nguy cơ các chủ kinh doanh lợi dụng tính chịu TNHH để lừa đảo, chiếm dụng vốn của khách hàng hoặc chủ nợ”[23]. Nếu những chủ kinh doanh này kinh doanh dưới hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên thì càng có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến xã hội.

– Tâm lý phần lớn các nhà kinh doanh hiện nay đều mong muốn khi tham gia một công ty và đến khi rời khỏi công ty đó họ đều gặp thuận lợi, dễ dàng, nhanh gọn. Tuy nhiên, như đã phân tích, do các thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên luôn giữ vai trò hết sức quan trọng đối với công ty nên việc chuyển nhượng phần vốn góp của họ gặp khá nhiều khó khăn, phức tạp. Theo một số chuyên gia, “đối với công ty TNHH, việc chuyển nhượng phần vốn góp không tự do, và cũng không dễ dàng, bởi lẽ… giá trị vốn góp gắn với nhân thân từng thành viên trong công ty. Bởi thế, việc xác định giá trị vốn góp trong công ty TNHH là khó khăn và nếu được chào bán, cũng khó tìm được người mua… Vốn góp thành lập các công ty thường do một nhóm nhỏ các thành viên, bạn bè và gia đình họ đóng góp – chứ thành lập công ty TNHH chưa phải để huy động vốn rộng rãi trong công chúng”[24]. Cũng vì lý do khó khăn trong việc thay đổi thành viên nên trên thực tế, nhiều nhà đầu tư không muốn tham gia hoặc thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.

– Mặt khác, quy định hạn chế số lượng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng là một rào cản rất lớn đối với sự phát triển của loại hình công ty này. Bởi lẽ, khi đã thành lập công ty, các nhà đầu tư đều mong muốn công ty phát triển và rất hạn chế phải thay đổi hình thức pháp lý của công ty. Bởi khi đã thay đổi hình thức pháp lý công ty thì thường phải thay đổi cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành, cơ chế đại diện, quyền hạn của các thành viên… Vì vậy, nhiều khả năng khi thay đổi hình thức pháp lý của công ty thì người chủ cũ cũng sẽ bị hạn chế, chia sẻ quyền lực của họ. Hạn chế rất lớn của công ty TNHH hai thành viên trở lên là luôn bị pháp luật ràng buộc, không cho phép ít hơn 02 thành viên và không được vượt quá 50 thành viên. Điều này gây khó khăn rất lớn, vì với biến động kinh doanh và nhu cầu phát triển thì khó có thể khẳng định trước rằng, đến giai đoạn nào, công ty cần phải mở rộng quy mô, hoặc có thêm nhu cầu huy động vốn. Để có thể mở rộng quá 50 thành viên thì công ty bắt buộc phải chuyển đổi thành công ty cổ phần. Như đã phân tích, việc chuyển đổi hình thức công ty không phải là giải pháp hiệu quả trong bất kỳ tình huống nào vì nó chứa đựng nhiều thủ tục, đồng thời gây tốn kém cho công ty. Vì thế, nếu để lựa chọn một loại hình công ty cũng có cơ chế TNHH về tài sản và khả năng mở rộng quy mô không giới hạn thì nhiều nhà đầu tư đã lựa chọn ngay từ đầu loại hình công ty cổ phần. Rõ ràng là, nếu so với công ty cổ phần thì sức thu hút, lợi thế cạnh tranh của loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên tỏ ra yếu kém hơn.

  1. Kiến nghị

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, công ty TNHH hai thành viên trở lên vẫn chưa thật sự phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của môi trường thương mại tại Việt Nam. Để công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể phát triển mạnh mẽ và phù hợp hơn với môi trường thương mại tại Việt Nam, thì rất cần thiết phải xem xét lại các vấn đề sau:

Các nhóm ngành, nghề như: y tế (mở phòng khám chữa bệnh tư nhân, cửa hàng bán thuốc, các vật tư ngành y tế…), dịch vụ pháp lý (văn phòng, công ty luật, dịch vụ công chứng tư, thừa phát lại…), nhóm tư vấn thiết kế (xây dựng, kiến trúc, thi công…), hay kiểm toán, dược phẩm, hóa chất… đều là những ngành nghề có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội. Bởi vì, chúng thường trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của con người hay trật tự, an ninh của cả xã hội. Trước đây, đã từng có quy định, khi tham gia các ngành nghề kinh doanh dịch vụ pháp lý (Văn phòng Thừa phát lại) thì bắt buộc phải thành lập dưới hình thức của công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân.[25] Như vậy, rõ ràng, pháp luật cũng đã cố gắng hạn chế các rủi ro mà lĩnh vực kinh doanh có thể gây ra và quy định rất cụ thể về hình thức pháp lý của công ty kinh doanh sẽ phải đáp ứng.

Theo chúng tôi, pháp luật nên quy định theo hướng không cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Nói cách khác, sẽ là hiệu quả và phù hợp hơn khi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chỉ được phép kinh doanh trong các lĩnh vực không đòi hỏi việc phải chịu trách nhiệm cao về mặt pháp lý và tài sản. Quy định này có thể góp phần định hướng các ngành nghề kinh doanh đi theo đúng trật tự, hoạt động an toàn, hiệu quả và phù hợp với thế mạnh của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.


[1] Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, Tập I, tr. 58.

[2] Lê Học Lâm, Lê Ngọc Đức, Luật Kinh doanh, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2010, tr. 105.

[3] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại, Tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 149.

[4] Phạm Duy Nghĩa, Luật Doanh nghiệp: Tình huống – Phân tích – Bình luận, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009, tr. 68.

[5] Nguyễn Như Phát, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Viện Đại học Mở Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 33.

[6] Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004, tr. 267.

[7] Điều 55 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[8] Maurice Cozian, Alian Viandier, Tổ chức công ty, dịch từ nguyên bản tiếng Pháp “Droit des societes: Litec. 1988, Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1990, tr. 132.

[9] Francis Lemeunier, Nguyên lý và thực hành Luật Thương mại, Luật Kinh doanh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 247.

[10] Lê Học Lâm, Lê Ngọc Đức, Luật Kinh doanh, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2010, tr. 105.

[11] Điều 73 và Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[12] Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh, Luật Kinh tế Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 246.

[13] Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2006), Luật Kinh tế Việt Nam, sđd, tr. 332 – 333.

[14] Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[15] Maurice Cozian, Alian Viandier, Tổ chức công ty, dịch từ nguyên bản tiếng Pháp “Droit des societes: Litec. 1988, sđd, tr. 145.

[16] Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

[17] Khoản 2 Điều 12, Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); và Điều 13 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

[18] Nguyễn Mạnh Bách, Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2006, tr. 85.

[19] Bùi Ngọc Cường, Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, sđd, tr. 58.

[20] Lê Thị Thu Thủy, Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002, tr. 254.

[21] Nguyễn Như Phát, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, sđd, tr. 36.

[22] Phạm Duy Nghĩa, Luật Doanh nghiệp: Tình huống – Phân tích – Bình luận, sđd, tr. 71.

[23] Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001, tr. 187.

[24] Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế, sđd, tr. 267.

[25] Khoản 4 Điều 1 Quyết định số 224/QĐ-TTg, ngày 19/2/2009.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s