51. Nhân viên làm, doanh nghiệp có phải chịu?

Nguyễn Minh Đức

Nguồn: TBKTSG Online, 3/11/2015

(TBKTSG) – Có lẽ không nhiều người để ý đến một chi tiết rất nhỏ trong Dự thảo Bộ luật Dân sự, nhưng sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế – đó là “đại diện bề mặt”.

Từ những bất cập thực tiễn…

Năm 2011, bà Hương Giang, Phó tổng giám đốc SeABank, ký thư bảo lãnh 150 tỉ đồng tiền trái phiếu của Công ty Megastar. Dựa trên thư bảo lãnh, Công ty Tài chính cổ phần Vinaconex-Viettel (VVF) đã mua số trái phiếu này, nhưng khi đến hạn thì Megastar không trả được nợ. VVF đã đến đòi SeABank.

SeABank từ chối thanh toán vì theo Quyết định 693 quy định nội bộ SeABank, bà Giang chỉ được ký thư bảo lãnh không quá 30 tỉ. Do đó, chứng thư này không ràng buộc SeABank.

Theo điều 146.1 của Bộ luật Dân sự 2005 thì lập luận của SeABank chính xác. Giao dịch do người đại diện xác lập vượt quá phạm vi ủy quyền thì không ràng buộc được người đại diện.

Nhưng nhiều người sẽ thắc mắc: “VVF làm sao có thể biết được về cái Quyết định 693 kia?” hoặc ai đó nhiều thủ đoạn hơn có thể cười khẩy mà nói: “Chắc là SeABank đã biết về cái chứng thư này từ trước, nhưng vờ im đi. Nếu ngon ăn thì được hưởng tiền phí, nếu không ngon thì giơ cái Quyết định 693 kia ra”.

Những vụ việc trên không phải là hiếm gặp. Thử tưởng tượng một ngày đẹp trời, bạn ra ngân hàng gửi tiền. Cô nhân viên ngồi ở quầy giao dịch, mặc đồng phục của công ty, có biển tên hẳn hoi, đon đả chào mời bạn những mức lãi suất hấp dẫn. Bạn quyết định gửi tiền và cầm lại một cái giấy biên nhận có chữ ký của cô nhân viên. Đến hạn, bạn đến lấy tiền thì được nghe trả lời: “Ngân hàng không chịu trách nhiệm do cô nhân viên đó chỉ làm ở phòng quản lý rủi ro chứ không có quyền nhận tiền gửi, muốn đòi tiền thì đi gặp cô ấy mà đòi”. Của đáng tội, cô ta cũng lừa hàng trăm người khác như bạn và giờ đang bị tạm giam, nhà cửa không còn đồng nào.

Bộ luật Dân sự 2005 đã đưa điều 144.4 với nội dung: “Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi đại diện của mình”. Khổ nỗi, chẳng mấy ai đi giao dịch mà lại yêu cầu người làm việc với mình trình giấy ủy quyền, quyết định bổ nhiệm, hay hợp đồng lao động ra cả. Mà nếu có thì có khi lại phải yêu cầu thêm cả chứng minh thư (vì lỡ đâu họ mượn giấy ủy quyền của người khác), thậm chí cả điều lệ của công ty (vì lỡ đâu giấy ủy quyền cũng vô hiệu do trái với điều lệ).

Rõ ràng, điều 146 của Bộ luật Dân sự 2005 có vấn đề.

…đến cách khắc phục

Những người soạn thảo Bộ luật Dân sự đợt này đã cố gắng khắc phục bằng cách bổ sung quy định mới về đại diện bề mặt. Theo đó, người ủy quyền vẫn bị ràng buộc bởi giao dịch vượt quá phạm vi ủy quyền nếu: “Người thứ ba có căn cứ để tin tưởng người xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình có quyền đại diện và không có lỗi về việc đã tin tưởng đó”(1).

Quy định này tương ứng với khái niệm đại diện bề mặt/đại diện bề ngoài/đại diện danh định (apparent authority hoặc ostensible authority) trong pháp luật của nhiều nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ… Khái niệm dùng để chỉ những chủ thể mà trông bề ngoài thì có vẻ như có quyền đại diện, nhưng trên thực tế thì chưa chắc như vậy.

Ban soạn thảo đã hy vọng là sẽ giúp bảo vệ được bên thứ ba trong các giao dịch thông qua người đại diện. Ấy thế nhưng, dự thảo mới nhất của Bộ luật Dân sự lại bỏ quy định này. Vì sao lại có chuyện sửa đi, sửa lại như vậy?

Ý kiến phản đối cho rằng, “đại diện bề mặt” quá nguy hiểm cho bên ủy quyền và họ sẽ phải chịu ràng buộc bởi các giao dịch mà mình không hề biết đến.

Quay trở lại vụ SeABank, nếu SeABank không biết gì về việc bà Giang ký thư bảo lãnh cho các đối tác bên ngoài, bỗng một ngày có người mang thư bảo lãnh đến và đòi SeABank phải trả tiền thì sẽ không công bằng với họ. Như vậy, VVF và SeABank đều… có lý. Nếu nhân viên đứng giữa đã cao chạy xa bay, hoặc cạn kiệt tài sản thì quả thật là chỉ còn hai kẻ “ngay tình” tranh chấp với nhau. Vậy, pháp luật nên đứng về bên nào?

Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ ủy quyền phổ biến là một doanh nghiệp ủy quyền cho nhân viên của mình. Còn quan hệ với bên thứ ba thường là giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ.

Nếu không có đại diện bề mặt, doanh nghiệp nhìn chung không phải quá lo lắng khi quản lý nhân viên của mình, còn khách hàng thì sẽ gặp rủi ro khi giao dịch với các nhân viên đó. Hệ quả là chi phí giao dịch của người tiêu dùng sẽ tăng lên, mà trách nhiệm tuyển dụng và giám sát người lao động của doanh nghiệp sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu có đại diện bề mặt, doanh nghiệp sẽ phải cẩn trọng hơn trong việc tuyển dụng, bố trí nhân viên, còn người tiêu dùng thì có thể yên tâm hơn khi mua hàng hóa, dịch vụ.

Xét về số lượng, các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ vượt xa so với việc thuê mướn nhân viên. Như vậy, quy định về đại diện bề mặt sẽ làm giảm chi phí giao dịch xã hội nói chung, giúp đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, tiền tệ. Hơn nữa, do doanh nghiệp quản lý nhân viên tốt hơn, tăng cường kỷ luật lao động, nên chất lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp ra thị trường, dịch vụ đi kèm bán hàng cũng tốt hơn. Từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế.

Làm thế nào để tốt hơn nữa

Để có đại diện bề mặt, người thứ ba cần chứng minh hai yếu tố: (1) mình có căn cứ để tin tưởng rằng người đang giao dịch với mình có quyền đại diện; và (2) mình không có lỗi về việc đã tin tưởng đó.

Thứ nhất, căn cứ để tin tưởng là những thông tin mà người thứ ba biết được trước khi giao dịch. Đó có thể là lời nói, thư giới thiệu, danh thiếp, biển tên, đồng phục, chức vụ, nơi làm việc, thời gian làm việc của người đại diện… Thứ hai, bên thứ ba không có lỗi trong việc tin tưởng đó, tức là không được tin tưởng một cách quá ngây thơ, cả tin.

Nếu bạn gửi tiền cho ngân hàng nhưng địa điểm giao dịch lại là ở quán cà phê bên cạnh chứ không phải trong nơi làm việc, hoặc bạn biết người nhận tiền không phải thu ngân mà là kế toán thì bạn khó có thể thuyết phục rằng mình không có lỗi trong việc tin tưởng. Hoặc giả bạn ký hợp đồng trị giá 100 triệu với phó giám đốc (không có giấy ủy quyền) của một công ty có vốn 20 tỉ thì có thể coi là có đại diện bề mặt. Nhưng nếu hợp đồng đó có giá trị 500 tỉ mà bạn vẫn ký với phó giám đốc (không có giấy ủy quyền) của công ty đó thì rõ ràng là bạn có lỗi trong việc tin tưởng.

Tuy nhiên, nếu chỉ như vậy thì có vẻ chưa công bằng với người được đại diện. Chuyện gì xảy ra nếu một cá nhân hoàn toàn không có liên quan gì đến ngân hàng nhưng lại đóng giả làm nhân viên ngân hàng để đi huy động tiền gửi của người dân? Trong trường hợp đó, nếu người dân chứng minh được rằng anh nhân viên đó đã mặc đồng phục ngân hàng, đã chìa giấy ủy quyền (làm giả) của ngân hàng và đi ô tô có dán logo của ngân hàng thì ngân hàng phải chịu trách nhiệm ư?

Do đó, cần bổ sung thêm một yếu tố nữa để cấu thành đại diện bề mặt: (3) căn cứ đó phải là do bên được đại diện tạo ra hoặc chịu trách nhiệm quản lý. Như vậy, nếu chức vụ của người đại diện, trụ sở làm việc của người đại diện, các thẻ nhân viên, biển tên, con dấu không phải là của công ty hoặc do công ty cấp thì công ty không phải chịu trách nhiệm. Quy định thêm yếu tố này sẽ hợp lý hơn trước hết là để tránh cho các công ty phải chịu trách nhiệm về những hành vi mà mình hoàn toàn không hề biết đến và cũng không có lỗi dẫn đến hành vi đó diễn ra. Ngoài ra, việc tăng cường quản lý nhân sự, tài sản của một công ty cũng không thể nào ngăn chặn được những kẻ lừa đảo, làm giả mọi thứ.

(1) Điều 145.1.a, dự thảo Bộ luật Dân sự trình UBTVQH tại phiên họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 8-2015

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s