34. Có dễ để bỏ con dấu?

Kiều Anh Vũ – Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn

Nguồn: TBKTSG Online 28/3/2015

(TBKTSG) – Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa đưa ra Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) để lấy ý kiến nhân dân. Dự thảo nghị định có nhiều điều luật quy định về con dấu của doanh nghiệp, đặc biệt là quy định về việc để cho doanh nghiệp toàn quyền quyết định về việc có hay không có con dấu.

Cụ thể, khoản 1 điều 18 dự thảo nghị định quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu, hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông quyết định doanh nghiệp có con dấu hoặc không có con dấu; quyết định số lượng, nội dung, hình thức con dấu, hủy hoặc thay đổi mẫu dấu; quyết định việc quản lý, sử dụng con dấu”. Quy định này là nhằm hướng dẫn chi tiết khoản 1 Điều 44 Luật Doanh nghiệp: “Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp”.

Quy định tại khoản 1 điều 18 Dự thảo Nghị định là một đề xuất “táo bạo” và rất đáng trân trọng của ban soạn thảo Dự thảo nghị định, nhằm mục đích tiên phong trong cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy vậy, trong thời điểm hiện tại, quy định cho phép doanh nghiệp có quyền không có con dấu xem ra vẫn khó thực hiện.

Luật Kế toán hiện hành quy định doanh nghiệp là đơn vị kế toán và chứng từ kế toán khi lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán (khoản 4 Điều 19 Luật Kế toán 2003), nghĩa là phải có dấu của doanh nghiệp (hiện nay đã có dự thảo sửa đổi Luật Kế toán 2003 nhưng không có điều khoản sửa đổi quy định này). Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (áp dụng từ ngày 1-1-2015) cũng quy định nhiều trường hợp phải đóng dấu trên các chứng từ kế toán, sổ kế toán dạng quyển phải “đánh số trang từ trang đầu đến trang cuối, giữa hai trang sổ phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế toán”, đối với sổ tờ rời thì “các tờ rời trước khi dùng phải được giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền ký xác nhận, đóng dấu và ghi vào sổ đăng ký sử dụng sổ tờ rời” (khoản 1 điều 124 Thông tư 200/2014/TT-BTC).

Trong lĩnh vực thuế, khoản 2 Điều 5 Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế cũng quy định: “Văn bản giao dịch với cơ quan thuế phải ký, ban hành đúng thẩm quyền; thể thức văn bản, chữ ký, con dấu trên văn bản phải thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác văn thư”.

Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý.

Trong lĩnh vực hải quan, theo quy định tại điểm c khoản 4 điều 25 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan (vừa có hiệu lực ngày 15-3-2015) thì “Đối với khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân) trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan”.

Trong việc giao kết hợp đồng, nhiều trường hợp doanh nghiệp vẫn phải có con dấu. Chẳng hạn đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo quy định tại Nghị định 133/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 103/2011/NĐ-CP) thì “Hợp đồng phải được các bên ký kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên tham gia hợp đồng là tổ chức” (điểm b khoản 1 điều 7). Đối với hợp đồng xây dựng, theo Nghị định 48/2010/NĐ-CP, “Hình thức hợp đồng bằng văn bản và được ký kết bởi người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của các bên tham gia hợp đồng. Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký tên và đóng dấu” (điểm c khoản 1 điều 6), “Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có)” (khoản 2 điều 6) (hiện tại Bộ Xây dựng cũng đã xây dựng dự thảo hướng dẫn Luật Xây dựng 2014 thay thế Nghị định 48/2010/NĐ-CP nhưng dự thảo cũng không quy định khác về điều khoản này). Đối với hợp đồng về nhà ở, theo Luật nhà ở 2014 (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) thì hợp đồng về nhà ở phải có “Chữ ký và ghi rõ họ, tên của các bên, nếu là tổ chức thì phải đóng dấu (nếu có) và ghi rõ chức vụ của người ký” (khoản 11 điều 121),…

Trong lĩnh vực tố tụng, doanh nghiệp cũng phải cần đến con dấu trong việc tiến hành thủ tục khởi kiện. Cụ thể, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, nếu doanh nghiệp tiến hành khởi kiện thì phải đóng dấu vào đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 3 điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011): “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”.

Tương tự, trong lĩnh vực tố tụng hành chính, để tiến hành khởi kiện, doanh nghiệp cũng phải đóng dấu vào đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 điều 105 Luật Tố tụng hành chính 2010: “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”.

Thực tế, nếu đơn khởi kiện của doanh nghiệp không có đóng dấu, tòa án có thể không nhận đơn hoặc nhận nhưng sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định (có đóng dấu).

Như vậy, pháp luật hiện hành vẫn quy định nhiều trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng con dấu.

Để có thể “hiện thực hóa” quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết không có con dấu, cần phải có sự cải cách đồng bộ mạnh mẽ từ các cơ quan quản lý nhà nước và cần lộ trình thực hiện hợp lý.

Quy định tại khoản 1 điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép doanh nghiệp tự quyết định về số lượng con dấu chứ không quy định rằng doanh nghiệp có quyền tự quyết có con dấu hay không. Doanh nghiệp tự quyết về “số lượng” con dấu tức là doanh nghiệp tự mình quyết định có một hoặc nhiều con dấu chứ không hẳn được quyền tự quyết có hay không có con dấu.Luật Doanh nghiệp 2014 cũng đã quy định: “Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu” (khoản 4 điều 44), “Hội đồng thành viên sử dụng bộ máy điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện nhiệm vụ của mình” (khoản 9 điều 97), “Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình” (khoản 4 điều 98).

Vncorporatelaw: Trích các điều liên quan đến con dấu trong Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp 2014

Điều 18. Số lượng, hình thức, nội dung con dấu của doanh nghiệp

  1. Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu, hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông quyết định doanh nghiệp có con dấu hoặc không có con dấu; quyết định số lượng, nội dung, hình thức con dấu, hủy hoặc thay đổi mẫu dấu; quyết định việc quản lý, sử dụng con dấu.
  2. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều con dấu, thì các con dấu phải giống nhau hoàn toàn về nội dung, hình thức và kích cỡ. Doanh nghiệp có thể tự làm dấu hoặc làm tại dấu tại các doanh nghiệp kinh doanh khắc dấu.
  3. Con dấu doanh nghiệp được thể hiện dưới một dạng cụ thể, bao gồm hình tròn, hình tam giác, tứ giác, lục giác, đa giác hoặc hình dạng khác theo quyết định của doanh nghiệp.
  4. Thông tin về tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp trong nội dung con dấu thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 38 và điều 30 Luật doanh nghiệp. Ngoài thông tin về tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể thể bổ sung thêm ngôn ngữ, hình ảnh khác vào nội dung con dấu của doanh nghiệp, trừ các trường hợp quy định tại điều 19 Nghị định này.

Điều 19. Số lượng, hình thức, nội dung con dấu của chi nhánh, văn phòng đại diện

  1. Chi nhánh, văn phòng đại diện có thể có con dấu hoặc không có con dấu. Số lượng, hình thức, nội dung, quản lý và sử dụng con dấu của chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp do doanh nghiệp quyết định.
  2. Trường hợp chi nhánh, văn phòng đại diện có nhiều con dấu, thì các con dấu phải giống nhau hoàn toàn về nội dung, hình thức và kích cỡ.
  3. Nội dung con dấu chi nhánh, văn phòng đại diện phải có tên chi nhánh, văn phòng đại diện theo quy định tại khoản điều … Luật doanh nghiệp. Hình thức con dấu và ngôn ngữ, hình ảnh khác trong nội dung con dấu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện theo quy định tương ứng tại điều … nghị định này.

Điều 20. Hình ảnh, ngôn ngữ không được sử dụng trong nội dung con dấu

1. Toàn bộ hình thức con dấu hoặc nội dung con dấu không được sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ sau đây:

a) Quốc kỳ, Quốc huy, Đảng kỳ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

b) Hình ảnh, biểu tượng của nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội.

c) Tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

d) Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mĩ tục của dân tộc.

2. Việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh là đối tượng đã được bảo hộ về sở hữu trí tuệ trong nội dung con dấu được thực hiện theo quy định Luật bảo vệ sở hữu trí tuệ.

3. Cơ quan đăng ký kinh doanh không chịu trách nhiệm về vi phạm của doanh nghiệp trong sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh trong nội dung con dấu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm chấm dứt sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh trong nội dung con dấu hoặc thay đổi mẫu dấu, bồi thường các thiệt hại phát sinh khi vi phạm quy định điều 19 Nghị định này. Tranh chấp giữa doanh nghiệp và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan về ngôn ngữ và hình ảnh sử dụng trong nội dung dấu của doanh nghiệp được giải quyết tại Tòa án hoặc trọng tài theo quy định của pháp luật có liên quan.

Điều 21. Quản lý và sử dụng con dấu

1. Các doanh nghiệp hiện hành tiếp tục được sử dụng con dấu đã cấp cho doanh nghiệp mà không phải thực hiện thông báo mẫu dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

2. Trường hợp doanh nghiệp doanh nghiệp muốn làm con dấu mới thì phải trả lại dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu đã cấp cho cơ quan công an đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu. Doanh nghiệp trực tiếp nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ nộp lại con dấu cho cơ quan công an. Hồ sơ nộp lại con dấu bao gồm giấy tờ sau đây:

a) Quyết định trả lại con dấu của doanh nghiệp và bản sao biên bản họp.

b) Con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu.

Doanh nghiệp được coi là đã nộp lại con dấu nếu không nhận được ý kiến phản đối bằng văn bản của cơ quan công an trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ.

3. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo số lượng và các mẫu con dấu tương ứng với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Làm con dấu hoặc làm con dấu mới.

b) Hủy con dấu.

c) Thay đổi về số lượng, nội dung, hình thức con dấu.

4. Trình tự, thủ tục và hồ sơ thông báo mẫu dấu, hủy con dấu, thay đổi mẫu dấu quy định tại khoản 3 điều này thực hiện theo quy định tại Nghị định số …. /2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày … tháng … năm 2015 về đăng ký doanh nghiệp.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s