33. Mối quan hệ giữa quyền của cổ đông phổ thông và quyền tự do kinh doanh trong Công ty cổ phần

Trương Vĩnh Xuân, Ths, Học viện Chính trị – Hành chính khu vực IV

Nguồn: T/c NCPL

Quyền của cổ đông phổ thông (CĐPT) là một trong những phương thức thực hiện quyền tự do kinh doanh (TDKD) của công dân. Tuy nhiên, quyền của cổ đông phải được thực hiện và bảo đảm thực hiện trong tương quan với lợi ích của các cổ đông khác, của các chủ thể khác và lợi ích chung của xã hội. Và như vậy, pháp luật phải quy định sao cho đảm bảo thực hiện quyền TDKD của công dân nhưng cũng phải đặt trong tương quan đó thì tính khả thi, tính hợp lý mới được đảm bảo.

  1. Quyền cổ đông phổ thôngtrong công ty cổ phần dưới góc nhìn quyền tự do kinh doanh

Quyền là khái niệm được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. “Quyền là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế. Các quyền gồm có (i) quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; (ii) quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp lý); (iii) quyền do điều lệ của tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức quyền chúng cho phép hội viên được làm; (iv) quyền do người khác ủy quyền…”[1]. Tuy nhiên, theo nghĩa thông thường, kể cả Từ điển tiếng Việt cũng phản ánh dựa trên góc độ pháp lý khi nói đến quyền, đó là “quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm được đòi hỏi”[2] hoặc là cách xử sự được phép của chủ thể mà pháp luật thừa nhận[3]. Như vậy, quyền được hiểu thông dụng là khả năng mà chủ thể đưa ra những xử sự mà pháp luật đã dự liệu dành cho chủ thể đó. Quyền được hiểu rất rộng và phải dựa trên một yếu tố nhất định làm cơ sở để từ đó phát sinh các quyền. Trong trường hợp đối với quyền của CĐPT, yếu tố đó là cổ phần – một loại tài sản mà cổ đông sở hữu.

Trong công ty cổ phần (CTCP), khác với các loại hình công ty khác, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau và gọi đó là cổ phần. Cổ phần có thể xem xét như là một phần vô hình, trừu tượng cấu thành nên công ty hoặc cũng có thể hiện hữu nhìn thấy được như là một minh chứng, một chứng thư (bằng hình thức cụ thể có thể nhìn thấy được như là một loại chứng khoán) phản ánh một loạt các quyền mà người nào sở hữu nó sẽ có. Từ góc nhìn thứ hai, cổ phần được coi như một tài sản[4]. Người sở hữu tài sản này sẽ trở thành cổ đông[5] công ty. Dù góp vốn với tư cách là cổ đông sáng lập hay sau này mua lại từ cổ đông khác, cổ đông cũng trở thành người có quyền sở hữu đối với cổ phần. Do vậy, cổ phần trong công ty thực ra cũng được xem như những món nợ mà cổ đông được đòi công ty[6].

Cổ đông là người chỉ cần sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP[7]. Với tư cách là người sở hữu của CTCP, cổ đông có thể thực hiện một số xử sự mà pháp luật quy định, đó là quyền cổ đông. Như vậy, quyền cổ đông là khả năng đưa ra những xử sự mà pháp luật cho phép thực hiện.

Dựa trên tính chất của các quyền cổ đông và khả năng mà các quyền đó đem lại cho cổ đông, quyền cổ đông có thể được phân chia thành quyền mang tính chất phòng ngừa, quyền mang tính chất khắc phục[8]. Một góc nhìn khác, quyền cổ đông có thể được chia thành các nhóm quyền: nhóm quyền về tài sản, nhóm quyền về quản trị/quản lý công ty, quyền được thông tin, quyền về phục hồi quyền lợi (hay gọi là nhóm quyền mang tính khắc phục)[9]. Hoặc quyền của CĐPT cũng được chia dựa trên ba quyền cơ bản của chủ sở hữu có được như các quyền liên quan đến quyền chiếm hữu, các quyền liên quan đến quyền sử dụng và các quyền liên quan đến quyền định đoạt cổ phần. Cũng có thể, các quyền mà cổ đông được xác định dựa vào mức tỷ lệ sở hữu cổ phần mà cổ đông có.

Về mặt bản chất, tất cả các quyền của cổ đông có được dựa trên nền tảng quyền sở hữu tài sản là cổ phần, trừ một số trường hợp đặc thù, ưu đãi. Trong CTCP, có nhiều loại cổ phần nên cũng có nhiều loại cổ đông. Theo Luật Doanh nghiệp, hiện cổ đông có 2 loại cơ bản: CĐPT và cổ đông ưu đãi. CĐPT là loại cổ đông bắt buộc phải có trong CTCP, là thành phần tất yếu hình thành nên công ty. Cổ đông ưu đãi là cổ đông có những quyền, lợi ích không xuất phát từ cổ phần mà họ đang sở hữu mà xuất phát từ những chính sách ưu đãi, đặc thù. Những người sở hữu cổ phần như nhau sẽ có những quyền ngang nhau và các quyền có được sẽ dựa trên quyền sở hữu cổ phần này.

Quyền của cổ đông trong CTCP thực chất cũng là quyền TDKD. Bởi quyền TDKD có thể được hiểu là khả năng hành động, khả năng được lựa chọn và quyết định một cách có ý thức của cá nhân hay doanh nghiệp về các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh[10], trong đó, bao gồm cả các quyền của cổ đông trong việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quyền tự do kinh tế nói chung và quyền TDKD nói riêng không thể là các quyền tự do tuyệt đối[11]. Vì lẽ đó, các cổ đông không phải/không được dựa trên quyền sở hữu đối với cổ phần đang nắm giữ trong CTCP mà muốn làm gì thì làm, muốn hành xử sao cũng được. Dưới góc nhìn quyền TDKD, các quyền của CĐPT phải được thực hiện trong giới hạn quyền và lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.

  1. Sự hạn chế quyền của cổ đông phổ thôngtrước quyền, lợi ích của chủ thể khác và của cộng đồng

Do tính chất không tuyệt đối của quyền TDKD, vì lợi ích của chủ thể khác, lợi ích của cộng đồng, quyền của CĐPT bị giới hạn trong một số trường hợp.

2.1. Giới hạn quyền của cổ đông bởi tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu trong CTCP

Dù dưới nhiều cách phân loại quyền khác nhau nhưng quyền cổ đông chủ yếu vẫn dựa trên nền tảng là quyền sở hữu đối với cổ phần mà CĐPT đang nắm giữ. Nói cách khác, nếu nhà đầu tư không sở hữu cổ phần thì cũng không trở thành cổ đông và sẽ không bao giờ có quyền gì trong CTCP. CTCP là công ty đối vốn, các thành viên công ty chủ yếu liên kết quyền với nhau chủ yếu dựa trên vốn góp và tương ứng với vốn góp là quyền lợi và trách nhiệm của họ đối với công ty là hoàn toàn khác nhau.

Dưới khía cạnh bản chất của cổ phần là tài sản, quyền của chủ sở hữu đối với tài sản cổ phần luôn gắn liền với tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu trong công ty. Bởi lẽ, cổ đông sở hữu cổ phần là đồng sở hữu với các chủ sở hữu khác nên quyền của chủ sở hữu phải nằm trong mối tương quan với quyền của các đồng sở hữu khác. Theo pháp luật doanh nghiệp hiện nay, ngoại trừ những quyền cơ bản mà bất kỳ CĐPT nào cũng có[12], các quyền của cổ đông còn được mở rộng, giới hạn bởi tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông. Các mức tỷ lệ cổ phần pháp luật doanh nghiệp quy định hiện nay là 1%[13], 5%[14], 10%[15], 20%[16],  35%[17], 50%[18] và một số định mức tỷ lệ mềm được quy định như 65% hoặc 75%[19] (của tổng số phiếu có quyền biểu quyết đi dự họp Đại hội cổ đông).

2.2. Giới hạn quyền cổ đông từ những người quản trị công ty

Cổ đông bao gồm các cá nhân và tổ chức có lợi ích, mục tiêu, hướng đầu tư và khả năng khác nhau. Hơn nữa, lãnh đạo công ty phải có khả năng đưa ra quyết định kinh doanh nhanh chóng. Do những thực tiễn này và sự phức tạp của việc điều hành công ty trong một thị trường đầy biến động, cổ đông không có trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty. Trách nhiệm đối với chiến lược và hoạt động của công ty được đặt vào tay những người quản trị công ty[20]. Như vậy, đa số cổ đông sở hữu công ty không thể thực hiện được các quyền của mình liên quan đến quản trị công ty mà phải thông qua những người đại diện mình thực hiện.

Quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ – principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy – agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty[21]. Như vậy, giống như trong một nhà nước dân chủ, các cổ đông đã tự trao một số quyền của mình cho người quản trị công ty thay mình thực hiện các quyền liên quan đến quản trị công ty mà đáng lẽ những người đồng sở hữu công ty phải thực hiện. Ở Việt Nam, các CTCP có tính chất gia đình rất nhiều, một hoặc nhiều người trong một gia đình đang nắm giữ một tỷ lệ lớn cổ phần trong công ty. Đa số những cổ đông lớn này đồng thời là người quản trị công ty nên họ rất dễ vì lợi ích của cổ đông lớn mà lạm dụng quyền làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông khác. Khả năng lạm dụng gia tăng khi hệ thống pháp lý cho phép và thị trường chấp nhận cổ đông nắm quyền kiểm soát thực hiện mức độ kiểm soát không tương ứng với mức độ rủi ro mà họ gặp phải với tư cách là chủ sở hữu… Việc lợi dụng này có thể được thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm việc bòn rút lợi nhuận cá nhân trực tiếp thông qua trả lương thưởng cao cho các thành viên gia đình và cộng sự, giao dịch với bên có liên quan, thiên kiến có hệ thống trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh, và thay đổi cơ cấu vốn thông qua việc phát hành ưu đãi các cổ phiếu làm lợi cho cổ đông nắm quyền kiểm soát[22].

Khi đã tự nguyện trao quyền của mình cho nhà quản trị như trong nhà nước dân chủ thì cổ đông đã tự mình hạn chế các quyền của mình bởi những người quản trị công ty và sự hạn chế càng lớn nếu người quản trị công ty đồng thời là cổ đông lớn và không vì lợi ích chung của công ty. Ngoài trừ một ngoại lệ, khi cổ đông lớn đang nắm giữ một tỷ lệ cổ phần quá lớn, khi đó lợi ích giữa họ và lợi ích công ty tương đồng và trong trường hợp này họ cũng thường là người tham gia quản trị công ty, họ sẽ không “tunneling” (đào mỏ) để chuyển nguồn lực ra khỏi công ty vì mục đích cá nhân của họ[23].

2.3. Giới hạn quyền CĐPT bằng quy định trong Điều lệ công ty 

Điều lệ công ty được xem như hợp đồng thành lập công ty. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Doanh nghiệp có nhiều quy định tùy nghi dưới dạng “…nếu Điều lệ công ty không có quy định khác” hoặc “…cụ thể do Điều lệ quy định”, cho phép điều lệ công ty có thể quy định khác so với quy định pháp luật nhưng không được trái pháp luật.

Quy định của Điều lệ có hai hướng. Có thể quy định có lợi cho cổ đông, nhưng cũng có thể quy định có lợi cho cổ đông lớn hoặc cho công ty nói chung. Trong khi đó, quyền của công ty, của người quản trị công ty và của cổ đông là một khối nên nếu Điều lệ mở rộng quyền của chủ thể này tất yếu phải hạn chế bớt quyền của các chủ thể khác. Do vậy, trên cơ sở quy định mềm của Luật Doanh nghiệp, tất yếu quyền của các cổ đông sẽ bị giới hạn nhất định ngay trong chính Điều lệ công ty.

Như vậy, Điều lệ công ty cũng là một trong những phương thức hạn chế quyền của các cổ đông trong CTCP.

2.4. Giới hạn cổ đông liên quan đến các cơ quan thực thi và đảm bảo thực thi quyền cổ đông

Quyền cổ đông chỉ mới là khả năng chủ thể thực hiện. Quyền này phải được thực thi bởi hành vi của cổ đông và được bảo đảm thực thi bởi những cơ quan có thẩm quyền.

Trong một số trường hợp, dưới góc nhìn kinh tế – luật, có nhiều quyền của cổ đông nếu được thực hiện đến nơi đến chốn, theo đúng thủ tục quy định thì cổ đông sẽ có được những lợi ích kinh tế từ quyền cổ đông mang lại không hề tương xứng với chi phí bỏ ra để thực hiện quyền đó hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo đảm thực hiện quyền đó.

Do vậy, hiệu quả thực thi các quyền và bảo đảm thực thi các quyền từ phía các cơ quan có thẩm quyền cũng là một trong những giới hạn quyền của cổ đông trong thực tiễn thực hiện pháp luật.

2.5. Giới hạn quyền CĐPT được mặc nhiên bởi mục đích của nhà đầu tư khi góp vốn

Các nhà đầu tư khi mua cổ phần hướng đến một hoặc nhiều mục đích khác nhau, nhưng có ba mục đích cơ bản: (i) Kiểm soát công ty: Cổ phần mang lại cho nhà đầu tư cơ hội kiểm soát hợp pháp một công ty và tác động đến quá trình đưa ra quyết định thông qua việc đề cử người vào làm thành viên Hội đồng quản trị hoặc thành viên Ban Giám đốc điều hành. Cổ đông sở hữu càng nhiều cổ phần càng có nhiều ảnh hưởng; (ii) Cổ tức: Cổ tức đóng một vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư. Các khoản chi trả cổ tức định kỳ, đặc biệt trong trường hợp nhà đầu tư nắm giữ một danh mục cổ phần, có thể tạo ra những đồng tiền ổn định; và (iii) Gia tăng giá trị cổ phần: Các nhà đầu tư mua cổ phần để được lợi từ việc gia tăng giá trị khoản vốn đầu tư. Không giống như cổ tức, lợi nhuận từ việc giá cổ phần tăng chỉ được hiện thực hóa khi nhà đầu tư bán cổ phần đó đi[24].

Với tư cách là một tài sản, quyền của chủ sở hữu phụ thuộc vào mức độ sở hữu cổ phần của cổ đông. Tuy nhiên trong một số trường hợp, không phải cổ đông nào cũng hướng đến mục tiêu quản trị công ty mà có thể có nhiều mục đích khác nhau. Có nhiều quan điểm cho rằng cần thiết phải bảo vệ quyền lợi của CĐPT trong CTCP, đặc biệt là những cổ đông nhỏ, cổ đông yếu thế. Nhưng nếu đặt trong phạm vi quyền TDKD của công dân, những cổ đông có thực sự mong muốn thực hiện một số quyền khác không hay đó là sự áp đặt đối với cổ đông khi mà họ không thực sự muốn. Chính bản thân cổ đông sẽ tự hạn chế quyền của mình bằng những mục đích được cổ đông đặt ra khi tham gia đầu tư mua cổ phần.

2.6. Bảo vệ quyền CĐPT và đảm bảo quyền cổ đông trên phương diện quyền TDKD của nhà đầu tư

Các quyền CĐPT phải được quy định trong văn bản pháp luật có hiệu lực. Bởi pháp luật về quyền CĐPT là điều kiện tiên quyết và quan trọng để bảo vệ cổ đông, là phương tiện để CĐPT có thể sử dụng để bảo vệ mình[25]. Cho nên cần đặt vấn đề rằng trong một số trường hợp nên chăng phải quy định bảo vệ cổ đông hoặc bảo đảm thực hiện các quyền cổ đông.

Nhà đầu tư mua cổ phần phổ thông của công ty để trở thành CĐPT cũng là một cách đầu tư. Dưới góc độ quyền TDKD, nhà đầu tư có nhiều mục tiêu đặt ra, và không phải lúc nào cũng muốn đạt được toàn diện các mục tiêu. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trước những chủ thể khác như các cổ đông lớn, người quản trị công ty hoặc vì lợi ích của nền kinh tế[26] không phải lúc nào cũng được đặt ra. Để đánh giá mức độ thực hiện các quyền đó còn lệ thuộc vào mục đích của nhà đầu tư khi trở thành cổ đông công ty. Các cổ đông sẽ không quan tâm đến các mục đích còn lại nếu mục đích đặt ra khi đầu tư đã đạt được và cũng không quan tâm đến các quyền của mình liên quan đến mục đích khác có vi phạm hay không, vi phạm như thế nào và làm sao để bảo vệ các quyền đó. Do đó, một số lượng lớn các cổ đông không muốn hoặc phần nào không muốn thực hiện một số quyền là một sự thật hiển nhiên.

Tại sao chúng ta phải bảo vệ nhà đầu tư cái mà nhà đầu tư không hoặc chưa mong muốn? Vấn đề đặt ra là tùy vào mục đích của nhà đầu tư để pháp luật có những quy định, những biện pháp đảm bảo thực hiện các quyền của CĐPT như họ mong muốn. Nên chăng pháp luật quy định đầy đủ các quyền cho cổ đông nhưng trong đó, có những quyền của cổ đông mang tính tùy nghi và những quyền mang tính bắt buộc. Đây không phải là điều dễ thực hiện, vì sự đa dạng của nền kinh tế, vì khó xác định được mục tiêu của nhà đầu tư, hoặc mục tiêu sẽ thay đổi theo sự biến động của nền kinh tế… Hoàn thiện pháp luật về quyền của CĐPT và bảo đảm thực hiện quyền cổ đông trong tương quan với các cổ đông khác tuy không dễ dàng thực hiện nhưng lại có tác dụng khuyến khích đầu tư và tăng cường bảo vệ nhà đầu tư./.

 

[1] Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, H, 1999, tr 395 – 396.

[2] Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà nội – Đà Nẵng, tr 815.

[3] PGS, TS Trần Ngọc Đường (chủ biên) (2000), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật (tập 1), NXB Chính trị Quốc gia, H., tr 340: “Quyền chủ thể là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành”; Trường Đại học luật Hà Nội (1998), Giáo trình Luật Dân sự (tập I), NXB CAND, H, tr 66: “Quyền dân sự là cách xử sự được phép của người có quyền năng”.

[4] Xem thêm Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân, Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải (tập II) , Kim lai ấn quán, Sài gòn, 1973, tr 935 – 936.  

[5] Có thể gọi cổ đông là “Shareholder” là “any person, company, or other institution that owns at least one share in a company”. Read more: http://www.investopedia.com/terms/s/shareholder.asp#ixzz1jLRZqNcj

[6] TS Nguyễn Quang Quýnh, Dân luật (Quyển 1), Viện Đại học Cần Thơ xuất bản, 1967, tr 108.

[7] Khoản 1, Điều 14 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11.

[8] Quách Thuý Quỳnh (2010), Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học số 4, tr 19.

[9] TS, Bùi Xuân Hải (2011), Biện pháp bảo vệ cổ đông, thành viên công ty: Lý luận và thực tiễn, Tạp chí luật họcsố 3, tr 11.

[10] PGS,TS Mai Hồng Quỳ (2012), TDKD và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao động, tr 54.

[11] TS. Phan Huy Hồng, TS Nguyễn Thanh Tú (2012), Quyền TDKD theo pháp luật liên minh Châu Âu và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, H, tr 153 – 154. 

[12] Khoản 1, Điều 79, Luật Doanh nghiệp 2005: a) Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết; b) Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông; c) Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty; d) Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật này; đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty; h) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

Khoản 4 Điều 128, Luật Doanh nghiệp 2005: Cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục ít nhất một năm có quyền tự mình hoặc cùng với luật sư hoặc kế toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét các báo cáo quy định tại Điều này trong thời gian hợp lý.

Điểm c, khoản 1, Điều 3 Thông tư 121/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng: Quyền được thông báo đầy đủ thông tin định kỳ và thông tin bất thường về hoạt động của công ty.

[13] Khoản 1 Điều 25 Nghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp: Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong một số trường hợp.

[14] Điểm b khoản 1, khoản  3 điều 15 Nghị định 102/2010/NĐ-CP, khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2005: Cổ đông sở hữu 5% cổ phần trở lên có quyền trở thành Giám đốc (Tổng Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị.

[15] Khoản 2, khoản 3 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005: Cổ đông sở hữu 10% cổ phần trở lên có quyền: Triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ bất thường và yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh giám sát việc triệu tập và tiến hành họp; Đề cử thành viên Hội đồng quản trị và thành viên Ban Kiểm soát; Kiến nghị các vấn đề đưa vào chương trình họp ĐHĐCĐ; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chép sổ biên bản họp và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa niên độ và báo cáo tài chính năm và các báo cáo do Ban Kiểm soát lập; Yêu cầu Ban Kiểm soát kiểm tra các vấn đề cụ thể có liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty.

Nghị định 102/2010/NĐ-CP: Khoản 1 Điều 22: quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp Đại hội đồng cổ đông; Khoản 8 Điều 23: Yêu cầu kiểm tra kết quả góp vốn.

[16]Khoản 1, điều 17 Luật Phá sản 2004: Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng có quyền nộp đơn tới tòa yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy công ty lâm vào tình trạng phá sản

[17] Có quyền phủ quyết việc thông qua quyết định của Đại hội cổ đông trong trường hợp các cổ đông có quyền biểu quyết đi họp đầy đủ.

[18] Điều 51 Điều lệ mẫu ban hành theo thông tư 15/2007/TT-BTC cho phép các cổ đông nắm giữ một nửa số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết trong bầu cử thành viên Hội đồng quản trị có quyền đệ đơn khiếu nại tới toà để yêu cầu giải thể theo một hay một số các căn cứ sau: (1) Các thành viên Hội đồng quản trị không thống nhất trong quản lý các công việc của Công ty dẫn đến tình trạng không đạt được số phiếu cần thiết theo quy định để Hội đồng quản trị hoạt động. (2)  Các cổ đông không thống nhất nên không thể đạt được số phiếu cần thiết theo quy định để tiến hành bầu thành viên Hội đồng quản trị. (3) Có sự bất đồng trong nội bộ và hai hoặc nhiều phe cánh cổ đông bị chia rẽ khiến cho việc giải thể sẽ là phương án có lợi hơn cả cho toàn thể cổ đông.

[19] Điểm a, điểm b khoản 3, Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005: Có quyền biểu quyết một số nội dung tại cuộc họp Đại hội cổ đông.

[20] Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 2004, tr 33.

[21] Trích theo TS. Bùi Xuân Hải, Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam,  http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&id=323:htvdvmvcplctvn&catid=110:ctc20074&Itemid=110

[22] Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD 2004, tr 44.

[23] TS Vương Đức Hoàng Quân, Nguyễn Thị Ngọc Liên (2007), Bàn thêm về đa sở hữu và vai trò của cổ đông chiến lược, Tạp chí Tài chính tháng 02, tr 32-33.

[24] Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, International Finance Corporation (WB), Cẩm nang quản trị công ty, NXB Nông nghiệp, tr 233.

[25] TS, Bùi Xuân Hải (2011), Biện pháp bảo vệ cổ đông, thành viên công ty: Lý luận và thực tiễn, Tạp chí luật họcsố 3, tr 11.

[26] Xem thêm TS. Bùi Xuân Hải (2010), Luật Doanh nghiệp bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, H, tr 145 – 158.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s