15. Con dấu đâu có lỗi

Phương Lan

Nguồn: Diễn đàn Doanh nghiệp Online, ngày 21/10/2011

Sau khi đăng bài về người đại diện và con dấu, báo DĐDN đã nhận được sự đồng tình của Luật gia Vũ Xuân Tiền – Chủ tịch HĐTV Cty tư vấn VFAM VN và ông khẳng định cần phân tích toàn diện hơn trước khi “kết tội” cho con dấu của DN.

Những hiện tượng bất thường trong quản lý kinh tế và quản trị DN xuất phát từ con dấu của DN là có thật. Song, cần nhìn nhận thực tế, trong giai đoạn này, không thể không có con dấu.

Con dấu rất cần thiết

Theo quy định của pháp luật: “Con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) và một số chức danh nhà nước. Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước” (Điều 1, Nghị định 58/2001/NĐ-CP). Như vậy, với một DN, khi một văn bản được đóng con dấu của DN (và tất nhiên phải có cả chữ ký của người có thẩm quyền) thì văn bản đó là của DN. Nếu một văn bản chỉ có chữ ký của người có thẩm quyền nhưng không được đóng dấu của DN thì chưa đủ căn cứ để khẳng định đó là văn bản nhân danh DN. Sự phân biệt như vậy là rất cần thiết để đảm bảo sự minh bạch, bảo vệ quyền lợi cho những cổ đông, thành viên góp vốn và đối tác trong thương mại, đầu tư của DN. Chẳng hạn, ông A, Chủ tịch Hội đồng quản trị – Người đại diện theo pháp luật của Cty cổ phần X ký hợp đồng vay tiền của ông B, hợp đồng được đóng dấu Cty cổ phần X thì đó là Cty X vay và có nghĩa vụ trả nợ. Và để được đóng con dấu của Cty X vào hợp đồng vay, hợp đồng này đã phải trải qua một quy trình kiểm tra, rà soát của Hội đồng quản trị hoặc Ban Kiểm soát của Cty X. Khi hợp đồng đó chỉ có chữ ký của ông A mà không được đóng con dấu của Cty X thì đó chỉ là giao dịch của ông A, không có cơ sở pháp lý để yêu cầu Cty X trả nợ.

Rõ ràng, con dấu là công cụ quan trọng để phân biệt, văn bản nào được ký kết nhân danh DN và văn bản nào là của cá nhân. Nếu không còn con dấu, ranh giới giữa nhân danh DNvà nhân danh cá nhân trong các giao dịch của người có thẩm quyền sẽ không còn. Khi đó, việc quản lý DN sẽ vô cùng rắc rối.

Lỗi ở công tác quản trị 

Trên thực tế đã có một số vụ việc tranh chấp căng thẳng trong nội bộ DNvề việc quản lý và sử dụng con dấu như vụ việc tại Cty cổ phần Đay Sài Gòn, Cty cổ phần Hữu Nghị Hà Nội, Đại học Hùng Vương và Cty Cung ứng tàu biển Hải Phòng… Song, nếu cho rằng, những vụ việc tranh chấp như vậy là do con dấu gây ra thì thật oan cho con dấu. Xét về bản chất, đó là những tranh chấp về quyền lực và thể hiện qua việc tranh chấp quyền quản lý, sử dụng con dấu. Nếu không có con dấu, tranh chấp về quyền lực đó vẫn xảy ra. Trong những trường hợp trên, con dấu không có lỗi mà chỉ bị lợi dụng khi có sự tranh giành quyền lực trong nội bộ DN.

Để xảy ra tình trạng tranh chấp quyền quản lý, sử dụng con dấu, trước hết là lỗi ở công tác quản trị DN. Khoản 1 Điều 36 Luật DN quy định: “DN có con dấu riêng. Con dấu của DN phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của DN”. Nếu tuân thủ nghiêm túc quy định trên thì không ai có quyền tự ý đưa con dấu ra ngoài trụ sở của DN. Ngược lại, trong không ít DN ở nước ta, con dấu mặc nhiên trở thành “tài sản riêng” của Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc. Đó là nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp về con dấu.

Con dấu là công cụ quan trọng để phân biệt rõ, văn bản nào được ban hành, ký kết nhân danh DN và văn bản nào là của cá nhân.

Trong khoảng 500.000 DN Việt Nam, đã có bao nhiêu trường hợp tranh chấp về quyền quản lý và sử dụng con dấu như những ví dụ đã nêu? Chắc chắn số đó không nhiều. Hơn nữa, tranh chấp về quyền quản lý và sử dụng con dấu không chỉ xảy ra với các DN. Năm 2008, ở Hiệp hội DN nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam (Hà Nội) cũng xảy ra vụ ông Phó Chủ tịch không chịu bàn giao con dấu khi đã nghỉ đến mức phải có sự can thiệp của cơ quan công an. Vì vậy, nếu chỉ xuất phát từ một vài vụ tranh chấp quyền lực thể hiện qua việc tranh chấp về con dấu để loại bỏ con dấu của DN có lẽ là chưa thấu lý và vội vàng.

Xem lại quy định về quản lý con dấu

Quy định về quản lý con dấu của DN ở nước ta hiện nay được áp đặt hoàn toàn như việc quản lý con dấu của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, quân đội và công an (gọi chung là cơ quan Nhà nước). Đó là điều bất hợp lý. Con dấu của cơ quan Nhà nước thể hiện quyền lực của Nhà nước, là tài sản của Nhà nước và phải được quản lý chặt chẽ. Song, con dấu của DN là “tài sản của DN”, do đó, nó phải do DN quyết định về hình thức, nội dung và công tác quản lý. Ngược lại, quy định của pháp luật lại quy định rất chi tiết từ hình thức, kích thước, nội dung của con dấu, màu mực dấu. Tên quận, (huyện), tỉnh mà DN đóng trụ sở cũng phải được ghi trên con dấu. Chỉ cần DN chuyển trụ sở sang quận (huyện) khác (đó là điều xảy ra rất phổ biến với các DN nhỏ và vừa) là đã phải thay con dấu. Điều đó gây tốn kém rất lớn cho cả DN và công tác quản lý của nhà nước. Vô lý hơn nữa, khi DN không may bị mất con dấu – tài sản của chính mình – lại bị phạt vi phạm hành chính rất nặng!

Thiết nghĩ, chưa thể bỏ con dấu của DN trong giai đoạn hiện nay. Song, Nhà nước cũng cần trao lại quyền có con dấu và quản lý con dấu cho chủ sở hữu DN. Điều đó có nghĩa là, chỉ cần quy định trong Luật DN như sau: “DN có con dấu riêng và phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh. Hình thức, kích thước, nội dung và nguyên tắc sử dụng con dấu do Điều lệ Cty quy định”.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s